Đốt, rải vàng mã: nên bỏ!
Kích thước chữ: Decrease font Enlarge font
image

Trái với suy nghĩ của nhiều người cho rằng việc đốt nhà lầu, xe hơi vàng mã sẽ giúp linh hồn người thân nơi suối vàng được ấm áp, siêu thoát..., nhiều vị sư thầy khuyên nên bỏ tập tục này vì nó khiến cả người sống và người chết đều... mang tội.

Vung phí tiền bạc

9 giờ sáng, phố Hàng Mã, Hà Nội đã nườm nượp người mua bán. Một con ngựa hàng mã nhỏ giá 50 ngàn đồng, một con ngựa cỡ trung giá 200.000 đồng, một chiếc xe hơi làm theo kiểu Lexus 460 thời thượng giá 2 triệu đồng, xe Ferrari, BMW... thậm chí cả Porscher cũng sẽ được làm như thật, miễn là khách mang một tấm ảnh (với dòng xe độc) và đặt tiền trước, hàng sẽ được giao tận nơi, đúng hẹn.

Khi tôi đề nghị làm cho một chiếc... du thuyền, chị chủ cửa hàng tên T. đon đả: “Thú thật chị cũng chưa tưởng tượng ra cái du thuyền nó dọc ngang ra sao. Nhưng được, chú cứ mang ảnh lên đây, nếu muốn thật giống thì phải mang ảnh chụp ở nhiều góc, từ đằng trước, đằng sau, bên sườn tàu, thậm chí cả nội thất. Chị sẽ đặt những nghệ nhân đỉnh nhất cho chú”. Sau khi tôi mang 4 tấm ảnh lên, chị T. gọi điện đi các nơi một hồi rồi ra giá chiếc du thuyền dài 1m là 4,5 triệu đồng, đặt trước 2 triệu, giao hàng tận nơi sau 10 ngày.

Sở Thông tin - Truyền thông Hà Nội vừa ra thông báo sẽ không cấp phép in các loại tiền vàng mã nhái theo các mẫu tiền polymer bởi việc in ấn loại tiền này dễ dẫn đến việc nhầm lẫn tiền thật - tiền giả. Ngoài ra, dự thảo thông tư hướng dẫn Luật Xuất bản đang được Bộ Thông tin - Truyền thông hoàn thành cũng sẽ đề cập đến vấn đề in ấn vàng mã, giấy tiền trong đó quy định không cho in các giấy “tiền âm phủ” giống tiền đồng.

Với quan niệm “dương sao âm vậy”, nhiều người đã bỏ cả chục triệu đồng mua vàng mã để đốt cho vong linh người thân dưới suối vàng. Chị Lê Thị Hoa ở phố Bùi Xương Trạch, Thanh Xuân, Hà Nội phải thuê một chiếc xe ba bánh chở ngựa, biệt thự, điện thoại, quần áo ra hè đường Vành đai 3 để đốt, bởi nếu đốt từng thứ trên sân thượng thì chị tính phải đốt ròng rã trong 2 ngày mới hết. Chị Hoa than thở: “Ngày giỗ đầu bố tôi, các thầy bảo phải mua đủ vàng mã, ô tô, xe máy, xe ngựa cho các cụ đi được tại nhiều địa hình ở dưới âm phủ. Nghe các thầy nói thế nào mẹ tôi cũng bắt con cái mua đủ như thế, không thì không yên tâm. Mua về khấn bái xong, đến lúc đốt thì phải khốn khổ tìm chỗ. Cuối cùng, đành thuê xe ba bánh chở ra hè đường mới mở để đốt, không thì dễ cháy cả dây điện”.

Một "kỷ lục" tại Hà thành cũng được xác lập trong ngày lễ Vu lan năm 2009 khi một đại gia thầu cát xây dựng tại sông Hồng đã bỏ ra tới hơn 400 triệu đồng, thuê 1 nghệ nhân, 5 thợ trong 2 tháng trời để làm 1.000 người - ngựa hàng mã, trong đó có 250 người - ngựa kích thước tương đương thật, 250 cỡ lớn, 250 cỡ vừa, 250 cỡ nhỏ. Sau khi làm lễ, khấn vái Thổ công, Hà bá, số vàng mã đã được đốt ngùn ngụt làm sáng rực cả một vùng bãi giữa, tro bay rợp mặt sông Hồng.

 Để tiền làm điều thiện

Điều đáng ngạc nhiên là khi chúng tôi hỏi chuyện các sư thầy tại nhiều chùa từ Bắc chí Nam, hầu hết các thầy đều khẳng định: Kinh Phật không dạy đệ tử đốt vàng mã.

Thầy Thích Nữ Như Hiền, trụ trì chùa Linh Sơn (Thanh Nhàn, Hà Nội), giải thích: Tục đốt vàng mã là một tục lệ của dân gian, xuất phát từ Trung Quốc, không phải bắt nguồn từ nhà Phật. “Tôi từng chứng kiến có người lập đàn giải oan đốt vàng mã mất mười mấy triệu đồng. Tôi cho rằng đó là việc làm mà cả người sống lẫn người chết đều có tội. Bởi lẽ, việc người sống vung phí tiền bạc, mua vàng mã, làm lễ to lễ nhỏ sát sinh gà lợn là có tội. Vì người chết mà người sống hoang phí, sát sinh, nên người chết cũng có tội. Tại chùa chúng tôi, những người rước vong vào chùa, tôi chỉ cho đốt đúng một bộ quần áo sứ giả, không có bộ thứ hai. Tôi vẫn giải thích với con nhang đệ tử là đốt nhà lầu, xe hơi xuống đó không những không giúp cho vong hồn ấm áp mà có khi còn khiến họ mang tội, không được lên trời. Nếu khi sống họ làm nhiều điều thiện, khi họ chết đi, con cái mang tiền thay vì mua vàng mã để đem bố thí cho người nghèo, người khó khăn ở vùng sâu vùng xa thì người chết cũng được hưởng phúc”, thầy Thích Nữ Như Hiền nói.

Đại đức Thích Thiện Mỹ, trụ trì chùa Viên Giác, TP Biên Hòa, Đồng Nai cũng khẳng định việc đốt vàng mã không bắt nguồn từ đạo Phật. Đại đức nói: “Khi chết đi, người thân tưởng nhớ, cầu nguyện cho họ là họ nhận được rồi, chứ không phải đốt vàng mã, tàu xe, nhà lầu là giúp họ được sung sướng. Với chùa chúng tôi, ai mang vàng mã đến tôi đều bảo họ mang về, nếu họ vẫn muốn đốt thì họ có thể đốt ở đâu cũng được, nhưng không phải trong chùa”.  

Hòa thượng Thích Thiện Tánh, Phó ban thường trực Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM: “Phải hiểu rằng, khi đốt tiền, vàng mã ra tro thì người chết cũng không xài được. Đã có trường hợp đốt nhà giả mà cháy nhà thiệt. Nếu tưởng nhớ hoặc thương người chết quá thì cũng nên nghĩ đến họ mà làm những việc phước báo để người mất yên lòng, bằng cách làm những việc từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Các hộ ma chay cũng không nên rải vàng mã trên đường, vì như thế sẽ bắt người khác quét dọn, lại gây quả báo”.

Đại đức Thích Nhật Từ, tiến sĩ Triết học, Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM: “Quan tâm đến người quá cố là một phương diện mang lại hạnh phúc cho người đang sống. Suy nghĩ đó là tốt, nhằm thể hiện tình cảm giữa người sống và người chết, duy trì truyền thống văn hóa của gia tộc, nhưng đã đến lúc, cần thể hiện bằng cách tích cực hơn... Nếu cứ tích lũy hết giấy vàng mã đã đốt từ hàng ngàn năm qua, thì đủ tiền xây dựng một quốc gia hùng cường và triệu triệu căn nhà cho người nghèo... Sự biểu hiện tình thương đối với người chết bằng quan niệm trên là vô lý”.

Minh Nam (ghi) 

Theo: Thanhnien.com.vn
Đánh dấu lên: Chia sẻ trên Facebook Facebook | Twitter bài viết này Twitter | Chia sẻ trên Google Google |

Thư từ, tin tức, bài viết xin gửi về địa chỉ trisu@phattuvietnam.net. Để biết hướng dẫn viết tin, gửi tin, đăng tin, xử lý hình ảnh, xin bấm vào đây. Rất mong nhận được sự cộng tác của chư Tôn đức Tăng Ni, quý Phật tử và độc giả gần xa

Subscribe to comments feed Phản hồi (3 bài gửi):

YL vào lúc 15/01/2010 15:44
avatar
Nguyên nhân tục đốt vàng mã
(HT. Tố Liên – 1952)


Với quan niệm thông thường, sau cái chết, con người cũng có một đời sống, cũng có các nhu cầu như khi đang ở dương thế. Một số người vì quá thương tiếc người thân đã mất, sắm đủ thứ vàng mã để đốt cúng nhân ngày giỗ hoặc các dịp lễ như Rằm tháng Bảy, Tết Nguyên Đán…, để người ở đã chết sử dụng ở cõi âm. Việc làm đó đôi khi thái quá, người ta có thể sắm vàng mã với hình dáng nhà lầu, xe hơi, máy lạnh, điện thoại di động, tiền mô phỏng đô-la Mỹ, v.v. . để cúng cho người đã chết. Tục đốt vàng mã bắt đầu từ đâu và Phật giáo quan niệm như thế nào về việc đốt vàng mã, VHPG trân trọng giới thiệu lại một bài viết cách đây hơn năm mươi năm của một danh Tăng ở miền Bắc, Hòa thượng Tố Liên về vấn đề này.


Phàm ở đời, cái gì cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, dưới đây sẽ biện bạch rõ cái nguyên nhân của tục đốt vàng mã.
Đọc kinh Dịch nhà Nho, chúng ta thấy rằng: Tục chôn người chết của nước Tầu về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khanh phần mộ chi cả. Đến đời vua Hoàng đế (2679 trước Tây lịch) cho rằng: Con cháu đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận, mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng đế đến đời Đường Ngu, cái lệ tục chôn cất người chết chỉ có thế thôi.
Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 trước Tây lịch), người Tầu mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo v.v… để đem theo người chết. Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quý khí, tức là những đồ vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đấy. Rồi đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất phải có người hầu hạ người chết, người ta mới lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo với người chết. Đến đời nhà Ân (1765 trước Tây lịch), lại không dùng mâm bát đồ đất và nhạc khí bằng tre gỗ để chôn theo người chết nữa. Thay vào cái đồ tế khí, dùng toàn đồ thật chôn theo.
Đời nhà Chu (1122 trước Tây lịch), người Tàu đã bắt đầu văn minh; Cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, giữa người chết với người chết đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc lễ nghi chôn cất. Số là từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ, đồ vật thật theo lệ nhà Ân để đem theo các vua chúa đã chết, còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ nào mà dùng nghi lễ ngang với người sang tức khắc phải tội “ Tiếm lễ”. Không những thế mà thôi, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những TUẪN TÁNG, nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quý khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết. Việc này chúng ta được thấy sự thật đã chép ở sách TẢ TRUYỆN rằng: “ Đời vua Văn Công thứ 6, vua Tần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công, vì Mục Công khi còn sống, yêu quý nhất ba anh em họ Tứ-xa. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ-xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn, mỉa mai. Trong thơ đại ý nói: “Ba anh em họ Tứ-xa đều là người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo với người đã tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay”. Về sau người ta cũng biết đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ “Sô-linh”, sau vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng đồ gỗ “Mộc ngẫu” như trước. Sách Trang Tử chép rằng: Vua Mục vương nhà Chu (1001 trước Tây lịch) có người tên là Yến-sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết. Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền nổi lòng phẫn uất mà thống mạ rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân”. Thầy Mạnh Tử cũng ác cảm với tục hình nhân thế mệnh mà nguyền một câu độc rằng: “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Đến đời nhà Hán, giới tri thức Nho học cảm động với nhời tuyệt cự thống thiết của ngài Khổng, Mạnh trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ TUẪN TÁNG, không dùng người sống chôn theo với người chết nữa, nhưng lại làm ra nhà mồ để cho vợ, con, tôi, tớ người đã chết ra để ấp mộ. Còn các thức đồ ăn, mặc, hành dùng của người chết kia, khi còn sống dùng những thức gì, khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vẻ, người ta lại đục phỗng đá, voi, ngựa đá để bài trí chung quanh phần mộ nữa.

Đến đây chúng ta sẽ lại tìm thấy nguyên nhân của tục đốt vàng mã giấy. Đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy vỏ cây dó và rẻ rách, lưới rách đem chế ra giấy, vì đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v.. đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách “Thông giám cương mục” có chép: Vì vua Huyền tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hạng Thuỷ tổ nghề vàng mã được.

Đức Phật Thích Ca Ngài không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Tại sao ngày rằm tháng bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo mà thấy một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để kính biếu gia tiên. Chính nghĩa ngày rằm tháng bảy của Phật giáo là thế này: Ngài Mục Kiền Liên là bực đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Ngài đã tu chứng được 6 phép thần thông, mắt trông thấy thân mẫu Ngài là Bà Thanh Đề phải đày đoạ ở địa ngục, mà Ngài không sao cứu được mới cầu cứu đến Đức Phật. Đức Phật dạy rằng: “Dầu ông thần thông đến đâu chăng nữa, cũng không có thể cứu được tội nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của chư Tăng mới cứu được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được. Ngày rằm tháng bảy sắp tới đây, nó sẽ là ngày của chư Phật hoan hỷ, ngày của chư Tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng chư Tăng. Các Ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát”.

Chính ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên về ngày rằm tháng bảy đâu? Tại sao lại có tục lệ mê tín di đoan ấy? Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng bảy là thế này: Triều vua Đạt tôn nhà Đường (762) nhằm lúc Phật giáo cực thịnh ở Tầu, vị sư tên là: Đạo-Tăng muốn cho dân chúng Tầu vì ngày rằm tháng bảy mà bồng bột theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của nhân dân Tầu vào tâu với vua Đạt tôn rằng: Rằm tháng bảy là ngày vua Diêm vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.

Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo tăng liền hạ chiếu cho thiên hạ, thế là nhân dân nước Tàu lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày 15/7 để kính biếu gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu lại bị chư tăng công kích bài trừ về việc đốt vàng mã vào ngày trọng lễ của Phật giáo làm cho cái lệ ngày 15/7 không còn có chính nghĩa nữa. Phần lớn dân chúng Tầu hồi đó, hầu tỉnh ngộ cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề nghiệp vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người Vương Luân dòng dõi của Vương Dũ là đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã. Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã trong bọn họ. Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi mọi người họ mạc, xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với một lũ người tất tưởi đem trăm nghìn thứ đồ mà đến có cả hình nhân thế mệnh nữa. Đem đến để làm gì? Bầy đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ. Chả! Chả! Phép quỷ thần màu nhiệm quá nhỉ! Thiêng liêng quá nhỉ! Khi mọi người đương suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên. Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài, liền mở nắp quan tài ra. Chàng giả cách chết kia cũng lò dò ngồi dậy, giả vờ lù dù, trông trước, trông sau, mới bước từ Đời nhà Chu (1122 trước Tây lịch), người Tàu đã bắt đầu văn minh; Cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, giữa người chết với người chết đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc lễ nghi chôn cất. Số là từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ, đồ vật thật theo lệ nhà Ân để đem theo các vua chúa đã chết, còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ nào mà dùng nghi lễ ngang với người sang tức khắc phải tội “ Tiếm lễ”. Không những thế mà thôi, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những TUẪN TÁNG, nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quý khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết. Việc này chúng ta được thấy sự thật đã chép ở sách TẢ TRUYỆN rằng: “ Đời vua Văn Công thứ 6, vua Tần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công, vì Mục Công khi còn sống, yêu quý nhất ba anh em họ Tứ-xa. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ-xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn, mỉa mai. Trong thơ đại ý nói: “Ba anh em họ Tứ-xa đều là người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo với người đã tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay”. Về sau người ta cũng biết đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, vàng mã ở kinh sách nào? Nếu các ngài tìm thấy, bần tăng này xin cam tâm vào địa ngục để chịu lấy tội vong hữu. Nếu không tìm thấy tục đốt vàng mã do Phật giáo hay Nho giáo truyền dạy, một lần nữa bần tăng thiết tha yêu cầu các ngài bỏ tục đốt vàng mã đi, lại sẽ khuyến hoá mọi người bỏ tục đốt vàng mã đi, vì tục đốt vàng mã là bọn Vương Dũ và Vương Luân đầu độc dân Tàu làm cho dân Việt Nam chúng ta cũng bị hại lây. Nay chúng ta cũng nhau triệt để bài trừ mê tín tục đốt vàng mã, quyết nhiên giữa dân tộc Việt Nam này để dành cho chúng ta viên thành một công nghiệp kiến quốc vậy.

1952
HT Tố Liên
(Theo VHPG số 63 )
Phản hồi hay Phản hồi dở
0
Cần Hủy Bỏ vào lúc 15/01/2010 15:54
avatar
Đốt Vàng Mã Một Thói Tục Mê Tín Cần Hủy Bỏ


Phật giáo,không hề thấy có việc đốt vàng mã cúng tế người chết ghi trong tam tạng kinh điển. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này. Phật giáo chỉ khuyên các con cái thân thuộc của người chết nên làm các việc như bố thí giúp người nghèo khổ, cúng dường trai tăng, ăn chay niệm Phật và phóng sinh rồi hồi hướng công đức ấy cho vong linh để siêu độ vong linh...

Đốt Vàng Mã Một Thói Tục Mê Tín Cần Hủy Bỏ
(Hoàng Liên Tâm)

Trong một dịp đi hành hương các chùa nhân dịp đầu năm, chúng tôi có cơ hội chứng kiến việc đốt vàng mã để cúng lễ tại các chùa đền khắp nước Việt Nam. Nay trong một dịp dự tang lễ người quen tại một nhà quàn ở thành phố Westminster Hoa Kỳ, chúng tôi cũng chứng kiến việc đốt vàng mã cúng tế người quá vãng. Thật không ngờ thói tục này lại có thể được thực hiện nơi một xứ được gọi là văn minh tiên tiến nhất thế giới này. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi được cho biết là ngay trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ và một vài nước khác trên thế giới, vẫn còn việc đốt sớ và vàng mã cho những người đã khuất nhân dịp họ cúng giỗ và cầu siêu tại gia đình hay tại một số chùa.
Tại Việt Nam, tục lệ đốt vàng mã đã và đang phát triển mạnh, không còn ở trong phạm vi cúng giỗ ở gia đình và chùa đền mà còn lan sang các cơ quan công quyền quốc doanh, trở thành một nghi thức không thể thiếu của các công ty xây dựng cầu đường và các công trình thủy điện, trong các buổi lễ động thổ, khởi công các công trình do nhà nước giao phó. Theo Bộ Văn Hoá Thông Tin cho biết khoảng 50.000 tấn vàng mã được sử dụng trong một năm và riêng tại Hà Nội đã tiêu thụ trên 400 tỉ đồng cho việc đốt vàng mã. Tại miền Nam California, nơi có đông người Việt cư ngụ, không có con số thống kê nhưng tất cả các siêu thị Việt Nam và Trung Hoa đều bày bán vàng mã, chứng tỏ có nhu cầu tiêu thụ.
Trong nước, đã có nhiều vị Sư kêu gọi bà con nên bỏ thói tục mê tín này, Hoà Thượng Thích Thanh Từ, viện trưởng Thiền Viện Trúc Lâm, cũng đã có nói trong nhiều bài giảng pháp. Nhân một dịp viếng thăm Thiền Viện, người viết được Hoà Thượng cho biết lỗi lầm mê tín này là do quý thầy không giáo dục Tăng Ni Phật tử. Gần đây Hoà Thượng Thích Thanh Tứ tại chùa Quán Sứ Hà Nội cũng lên tiếng chỉ trích việc đốt vàng mã. Thầy cho biết “nhiều người lúc cha mẹ còn sống thì ngược đãi, đánh đập. Thế mà đến ngày báo hiếu thì những người con ấy lại đốt vàng mã thật nhiều để báo hiếu cha mẹ. Hành vi ngược đãi cha mẹ, luật pháp cũng không dung tha, Phật cũng không chấp nhận lễ của những đứa con bất hiếu đó. Phật dạy, con cái phải thờ phụng cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ lúc già yếu. Không nên biến ngày Đại lễ Vu Lan trở thành ngày mê tín dị đoan, lãng phí.”
Thật ra tục lệ đốt vàng mã đã có từ lâu đời, đã bén rễ và ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam nên rất khó từ bỏ trong một sớm một chiều. Nhiều người cho đó là một trong những nét đẹp văn hoá của phong tục thờ cúng tổ tiên. Nhưng việc này cần nên xét lại, có thể chỉ vì không biết rõ nguồn gốc nên cứ theo tục “trước làm sao nay làm vậy”. Vậy chúng ta cũng nên tìm hiểu nguồn gốc của nó để thấy rõ đó là một thói tục mê tín cần loại bỏ trong sinh hoạt đời sống tâm linh của người Việt.
Sau khi nghiên cứu lịch sử Trung Hoa, chúng tôi được biết, tục đốt vàng mã là của người Trung Hoa, bắt đầu từ nhà Hán. Nguyên do vì nhà vua muốn thực hành lời dạy của Đức Khổng Tử: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, nghĩa là thờ người chết như thờ người sống, thờ người mất như thờ người còn. Nên khi nhà vua băng hà, phải bỏ tiền bạc thật vào trong áo quan để vua tiêu dùng. Sau đó quan bắt chước vua và rồi dân bắt chước quan. Ai cũng chôn tiền thật theo người chết. Bọn trộm cướp biết vậy nên đào trộm mồ những người giầu có, như mộ vua Hán Văn Đế bị quân trộm khai quật lấy hết vàng bạc châu báu. Về sau từ quan đến dân thấy việc chôn tiền bạc thật quá tốn kém nên mới nảy sinh ra dùng giấy cắt ra làm tiền giả, vàng giả để thay thế. Dần dà người dân bắt chước và trở thành tập tục. Đến năm Khai Nguyên thứ 26 ( 738 DL), vua Đường Huyền Tông ra sắc dụ cho phép dùng tiền giấy thay cho tiền thật trong việc cúng tế cầu siêu. Việc sử dụng vàng mã chính thức bắt đầu từ đấy và sau đó du nhập qua Việt Nam theo dấu chân những người Trung Hoa đi chinh chiến.
Nguồn gốc chỉ vì một ông vua Tàu tuân hành lời dạy của ông Khổng coi người chết như còn đang sống, chứ ai cũng biết người chết không thể nào tiêu xài số tiền vàng chôn theo ấy. Ngày xưa chôn tiền bạc thật theo người chết như thế, không có ích lợi gì mà chỉ làm khổ người thân, thì việc đốt vàng mã tức toàn đồ giả thời nay có ích gì. Huống hồ nếu xét kỹ thấy toàn những chuyện nghịch lý đến khôi hài. Như có người (ở Hà Nội) cúng người chết cả máy điện thoại cầm tay bằng giấy, Honda Dream bằng giấy và máy vi tính bằng giấy nữa. Khi còn sống không hiểu người chết ấy có biết sử dụng máy vi tính, điện thoại cầm tay hay xe Honda không? Còn nữa chưa hết, người viết xin ghi lại một đoạn tường thuật ngắn của phóng viên báo VnExpress khi đi thăm phố Hàng Mã nhân dịp ngày Vu Lan năm ngoái. Xin trích “Tại phố Hàng Mã (Hà Nội) điểm "phân phối" hàng mã cho những người bán rong trên các đường phố luôn đông nghịt người mua sắm, bộ cúng thần linh rẻ nhất cũng 15.000 đồng, cúng chúng sinh giá tương tự. Chúng tôi chen chân hỏi mua đồ cúng với giá "bình dân" đã không được các chủ hàng bán. Tôi chứng kiến một phụ nữ trung niên cùng cô con gái đến mua nhà lầu, xe hơi, điện thoại di động, tivi, xe máy, quần áo, tiền USD. Họ còn mua thêm một cô gái bằng giấy, nhưng cũng giày cao gót, cũng váy ngắn, áo lửng. Khi bà mẹ cầm "cô gái" trong tay thì cô con gái cầm ngay chiếc kéo nhỏ đâm lia đâm lịa vào mặt hình nhân thế mạng. Giải thích cho những người xung quanh về việc làm kỳ quặc của cô con gái, người phụ nữ trung niên nói: "Bố cháu làm tổng giám đốc, nay xuống dưới ấy cũng phải gửi cho ông ấy cô thư ký, nhưng phải làm cho nó xấu xí để khỏi trở thành bồ của bố cháu".
Thật là khôi hài, lễ Vu Lan và các lễ tết truyền thống của người Việt chúng ta là những ngày để con cháu nhớ tưởng đến cha mẹ, ông bà, tổ tiên, đã bị biến thể một cách lạ lùng. Nếu bảo rằng “sự tử như sự sanh” thì thử hỏi những đồ vàng mã ấy khi còn sống có ai tiêu xài được không.
Với Phật giáo, chúng tôi không hề thấy có việc đốt vàng mã cúng tế người chết ghi trong tam tạng kinh điển. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này. Phật giáo chỉ khuyên các con cái thân thuộc của người chết nên làm các việc như bố thí giúp người nghèo khổ, cúng dường trai tăng, ăn chay niệm Phật và phóng sinh rồi hồi hướng công đức ấy cho vong linh để siêu độ vong linh; khi mai táng, không nên dùng quan tài đắt tiền, không nên để cho người chết mặc quần áo đắt tiền, không nên phung phí quá nhiều công và của cho việc tang lễ. Trái lại, nên mặc cho người chết quần áo bình thường, sạch sẽ, còn quần áo tốt đẹp và mới thì nên đem bố thí cho kẻ nghèo, nếu có tiền thì nên in kinh sách để Phật pháp lưu hành và bố thí cho người nghèo bớt khổ. Chỉ có làm như vậy, vong linh người chết mới thật sự được lợi ích; còn nếu đem các đồ vật quý cùng mai táng với người chết, hay đốt vàng mã để người chết tiêu dùng dưới âm phủ, thì đó là hành vi thiếu trí tuệ, không xứng đáng là một Phật tử chân chánh.
Hoàng Liên Tâm
http://daitangkinhvietnam.net/nghien-cuu-phat-hoc/httpdaitangkinhvietnamorgnghien-cuu-phat-hoc125-chan-hung-phat-giaohtml/1210-dot-vang-ma-mot-thoi-tucc-me-tin-can-huy-bo-.html
Phản hồi hay Phản hồi dở
0
huyminh vào lúc 20/01/2010 12:03
avatar
theo tôi đây không phải là vấn đề nên hay không nên? mà là cần chấm dứt hủ tục lạc hậu và mê tín này. Xưa nay Sáng _ Tối không đồng, Tròn _ Vuông luôn khác ,Đạo Phật là chân lý ,giác ngộ thì làm sao có thể dung túng việc quá vô lý như vậy! Người Phật Tử mà làm hỏi còn xứng với hai từ PHật TỦ thiêng niêng không???
Và lại Việc đốt mã còn làm hại người chết hết sức ghê gớm !!! Người mất có tu tịnh nghiệp cầu vãng sinh tây phương hoặc cảnh giới cao nếu người thân đốt vàng mã sợ Phật Cảnh Chưa Hiện Ma Cảnh Đã Đến Tâm ý BUÔNG Lung DUYÊN Theo Ma Giới.. Thật Phí một đời tu !chẳng đáng lo ngại sao?? chẳng đáng nguy hiểm sao?? Vì chua gì mà đồ dùng vật dụng,của cải tiền bạc của cõi ma đã đầy dẫy. Cả đời Duyên Theo CẢNH Phật Lúc quan trọng lâm trung Thì người thân lại Phô Bày CẢNH MA LÀM VƯỚNG BẬN!!Kẻ tâm trí thuần thục còn bị ảnh hưởng huống hồ người ngu lòng còn tạp niệm ư??

Lại nữa để làm ra tờ giấy ít hồ( làm mã phải dùng hồ gián nấu từ gạo) biết bao cánh rừng bị chặt hạ ?phá vỡ chỗ cư chú của biết bao loài con trung, giun rế,kiến mối, chim chóc chúng có phải là chúng sinh không? người Phật Tử có nên đốt giấy bừa bãi nữa Không? còn chẳng phải nói quý vị cũng biết để có hạt gao chúng ta phải phun không ít thuốc trừ sâu. Bọn chúng đã hy sinh thân mang minh cho ta có sản phẩm hưởng thụ thì phải cẩn trọng lâng lưu tiết kiêm chứ đem đốt đi vô ích thế khác gì đang HÀNH ĐẠI SÁT SINH hơn cả đồ tể mà vẫn tưởng là hiếu thảo có tình với người chết.
Người chết nào mà được đốt cho lắm vàng mã thì oán nghiệp thêm lớn, gốc tội thêm sâu. Còn người đem đốt tội còn lặng hơn . Hơn nữa với một việc làm vô ích còn làm đó cũng là chồng cái nhân si mê lầm lạc sao chánh khỏi quả báo tà kiến ngu si???
Việc đầy sấu ác như vậy Phật Giáo đâu thể Tuyên Dương mà các tôn giáo tín ngưỡng tiến bộ cũng chẳng đề sướng! Chỉ lầm đường lạc nối muốn theo ma đạo mới chịu tin làm. Đó là mây lời tâm huyết cùng trao đổi với quý Phật tử .
NAM MÔ CẦU SÁM HỐI BỒ TÁT MA HA TÁT
Phản hồi hay Phản hồi dở
0

Gửi phản hồi của bạn comment


Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt

Xin hãy nhập vào mã bạn nhìn thấy trong hình dưới đây:

  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Đánh giá bài viết
5.00
Thông tin tác giả
Admin

Từ khóa trong bài
Bài viết này không có từ khóa nào
Powered by Vivvo CMS v4.1.1