Lâu đài gương

Tính Viên dung Vô Ngại là thuộc về Chư Phật. Để có thể hiểu thấu tính Viên Dung Vô Ngại trên tinh thần Hoa Nghiêm, chúng ta phải thể nhập trạng thái Bất động Tâm Định.

Ý nghĩa yếu tố huyền sử trong lịch sử Đản sinh của Đức Phật

Lịch sử Đức Phật Thích Ca là lịch sử của một con người, nhờ công phu tu tập tự thân đã chứng đạt quả vị Giác ngộ. Suốt 45 năm thuyết giáo độ sinh, Ngài trở thành con người vĩ đại nhất sinh ra ở đời. Chính cuộc đời Đức Phật vĩ đại như thế khiến cho yếu tố huyền thoại của Ngài khi Đản sinh đi vào tâm thức nhân loại như là một huyền sử thiêng liêng, ngõ hầu tạo ra những dấu ấn tâm linh, ngay từ khi con người cất bước chân đi tìm về miền đất an lạc.

Quan điểm của Đức Phật về nghệ thuật sân khấu

Thời đức Phật hiện tiền chưa có nghệ thuật điện ảnh. Tuy nhiên, do mối liên hệ tương đồng mật thiết giữa hai loại hình nghệ thuật này, nên chúng ta có thể coi những quan điểm của Đức Phật về nghệ thuật sân khấu hoàn toàn có thể áp dụng đối với nghệ thuật điện ảnh.

Có lẽ, một sự ngộ nhận về Đức Phật?

Nhân vật “Đức Phật” trong câu chuyện do một linh mục dòng Tên (một dòng tu nổi tiếng là cực đoan, lấy mục đích biện minh cho phương tiện”) là một nhân vật cực đoan, ngạo mạn, độc đoán và vị kỷ.

Vấn đề chân lý trong đạo Phật

Chúng ta thấy rằng đạo Phật chủ trương một cái Biết rộng rãi, thấu triệt, và cao tột (Vô Thượng Chánh Biến Tri Giác). Cái Biết nầy căn cứ trên những thực nghiệm tâm linh, trên sự giải thoát giác ngộ của một vị Phật đã siêu xuất vô minh và sinh tử luân hồi. Cái Biết ấy là cái biết về chân tướng của vạn hữu, cái Biết về bộ mặt thực của mọi hiện tượng (bản lai diện mục).

Phật giáo: Hữu thần – Vô thần

Theo nếp suy nghĩ của chúng ta, mọi vật trong thế giới đều được chia thành hai đối cực: có - không, đúng - sai, phải - quấy… Nhưng mà, vạn vật đâu phải chỉ là sự phân chia ranh giới rạch ròi, sự phân chia rạch ròi đó chỉ là hệ quả hệ lụy từ trong bản chất ưa suy luận của chúng ta thôi (kinh Lănggià gọi là hý luận: prapañca).

Năm hình ảnh trước cửa tử

Khi hành Thiền nếu tiến được xa hơn, chúng ta có thể đạt được quả A-la-hán khi loại trừ năm kiết sử còn lại. Đó là sắc ái (rupa-raga), vô sắc ái (arupa-raga), mạn (mana), trạo cử (uddhacca), và vô minh (avijja). Các Ngài đã đạt được quả vị cuối cùng, và khi lìa cõi đời sẽ không thấy hình ảnh gì cả.

"Phật giáo ở đâu…": Câu hỏi muộn màng (Bài 14)

Tiếp tục giới thiệu các tư liệu về tình hình tôn giáo ở vùng núi và cao nguyên Việt Nam, nhằm phục vụ cho Phật sự hoằng pháp đến đồng bào dân tộc thiểu số, có thể là tài liệu hữu ích cho tăng ni Phật tử Việt Nam phát nguyện làm Phật sự quan trọng này, trong nội dung dưới đây, chúng tôi xin trích giới thiệu một đoạn khác trong sách “Di cư của người H’mông từ đổi mới đến nay”, tác giả TS. Đậu Tuấn Nam, nhà xuất bản Chính trị - Sự thật, Hà Nội, 2013, từ trang 74.

Khởi nguyên Thiền Học Việt Nam

Phần đông chúng ta đều cho rằng đạo Phật có mặt ở Việt Nam là do du nhập từ Trung Quốc, nên Thiền học Việt Nam cũng cùng chung số phận như thế. Mọi người đều không ngờ rằng trước khi Tổ Đạt Ma mang Thiền tông sang Trung Quốc (thế kỷ VI) thì ở Việt Nam (thế kỷ III) đã có Thiền học gần ba thế kỷ rồi, Thiền học đó lại được truyền ngược lại từ Việt Nam sang Trung Quốc. Và người phát huy nền Thiền học đó cũng như hoằng truyền đạo Phật tại Việt Nam chính là Thiền sư Khương Tăng Hội.

Bàn về Trí tuệ trong đạo Phật

Đức Phật dạy rằng “Lấy trí tuệ là Sự nghiệp”, chúng ta cũng biết rằng, trí tuệ chân chính chỉ được phát sinh trong quá trình vận dụng Chính kiến và chính tư duy của mỗi con người.

Bài xem nhiều