Một số ý kiến qua bài “Khó chấp nhận trên dòng chảy truyền thống”
image

Tôi được đọc bài “Khó chấp nhận trên dòng chảy truyền thống” của GS.TS Trần Lâm Biền nói về những ngôi chùa to, đăng trên báo Khoa học & Đời sống ra ngày 22/07/2010.

Tôi được đọc bài Khó chấp nhận trên dòng chảy truyền thống của GS.TS Trần Lâm Biền nói về những ngôi chùa to, đăng trên báo Khoa học & Đời sống ra ngày 22/07/2010.

Dù là dưới dạng trò chuyện (do P.V Mai Anh thực hiện) nhưng bài viết đã đưa ra những thông điệp, những nhận định mà theo tôi cần được trao đổi lại, không ngoài mục đích đúng đắn chung, trước những vấn đề còn có những ý kiến khác nhau.

Để tiện theo dõi, chúng tôi sẽ trao đổi lại từng vấn đề mà phóng viên đã nêu ra và quan điểm của GS Trần Lâm Biền.

1. “Nhập vào chùa nhiều chứ không phải Phật”.

-  “Đạo mẫu bắt nguồn từ đời nguyên thủy từ mấy nghìn năm trở về trước. Chỉ cách đây 2000 năm đạo Phật mới tới …”.

Ở đây có sự sai lầm cơ bản. Tín ngưỡng thờ Nữ thần có từ nguyên thủy cách đây mấy nghìn năm, nhưng từ tín ngưỡng thờ Nữ thần tới tín ngưỡng thờ Mẫu, rồi tới đạo Mẫu là cả một quá trình lâu dài của lịch sử. Với những tư liệu mà hiện nay chúng ta có được, Đạo Mẫu ở Việt Nam, với những chuẩn tắc nghi lễ tương đối chặt chẽ, chắc chắn không thể có trước thế kỉ thứ X sau Công nguyên.

- “Gần đây một số kẻ đã lợi dụng và biến đổi đạo Phật đi rất nhiều… Bộ phận này vì không hiểu biết đến nơi đến chốn đạo Phật đã nhập vào chùa nhiều thứ không phải Phật”.

Nhận định trên đây rất chủ quan, thiếu cơ sở, thể hiện trình độ Phật học và Phật giáo sử của ông T.L.B. có vấn đề!

Về giáo lý, tư tưởng, triết học Phật giáo là nhất quán (theo Kinh tạng), nhưng với tư cách là một hệ thống tôn giáo - triêt học - văn hóa - đạo đức - lối sống thì Phật giáo chủ chương “Tùy thời tùy quốc độ” (Tùy theo thời đại, phong tục tập quán của mỗi nơi nó đến mà có cách thức phương tiện truyền bá cứu độ khác nhau).

Không chỉ ở Việt Nam, Phật giáo đến bất cứ quốc gia nào đều nhanh chóng “tùy duyên” hòa nhập với tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán nơi nó đến, trên cơ sở cái cốt lõi “bất biến” là tư tưởng giáo lý trong Kinh tạng. Thế là có tính biện chứng, có tính cụ thể, có tính lịch sử đấy chứ! Đó là cái hay, cái quý của Phật giáo mà ông không biết, không hiểu hay cố tình không hiểu, không biết?

Vì thế mà trong Phật giáo sử, mới có “Phật giáo Trung Quốc”, “Phật giáo Ấn Độ”, “Phật giáo Thái Lan”, “Phật giáo Việt Nam”… mang sắc thái riêng của mỗi quốc gia, dân tộc. Do vậy, việc “nhập vào chùa nhiều thứ không phải Phật” là chuyện bình thường trong lịch sử, đã diễn ra từ buổi đầu Phật giáo được du nhập vào Việt Nam (hệ thống Phật Tứ Pháp chẳng hạn) cho đến ngày nay.

Vùng châu thổ sông Hồng hiện còn nhiều ngôi chùa Tam giáo, ngay ở cố đô Huế, ngôi chùa có dạng thức “Tiền Phật hậu Thần/Thánh” hoàn toàn không xa lạ với bà con Phật tử, nó góp phần tạo nên bản sắc của Phật giáo Việt Nam.

Việc thiết trí thờ tự nơi Phật điện có phối thờ một số vị thần của đạo Nho, đạo Lão và tín ngưỡng dân gian Việt Nam đã có từ trong lịch sử, do lịch đại Tổ sư danh Tăng thiết trí, phản ánh nhu cầu tâm linh tín ngưỡng của Phật tử chứ không phải do những “kẻ lợi dụng…không hiểu đến nơi đến chốn đạo Phật” bày đặt để hôm nay “kẻ không hiểu đạo Phật đến nơi đến chốn” phê phán!

Đương nhiên không ai phủ nhận hiện trạng đáng báo động hiện nay là không ít người (có cả tu sĩ Phật giáo) không ít nơi (có cả chùa chiền) lợi dụng tôn giáo thực hành mê tín dị đoan, làm sai chính pháp, nhưng đó lại là câu chuyện khác.

Việc ngăn ngừa, tiến tới bài trừ mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh…là mối quan tâm, là việc làm thường xuyên của các cơ quan hữu quan của Nhà nước và của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Còn việc tại sao không ngăn ngừa bài trừ được lại là chuyện khác, ở những diễn đàn với chủ đề khác.

Cứ theo ông Biền thì, để tránh bị lợi dụng, phải xóa bỏ lịch sử, làm mới từ đầu, bỏ hết tượng phối thờ ra khỏi chùa? Tôi quả thực không thể lường nổi những hệ lụy gì sẽ xảy ra: lòng dân hoang mang, hoặc giả người ta biến bàn thờ Tổ thành điện thờ Phật Thánh, thậm chí trong dân gian phát sinh không ít điện thờ, ban thờ dưới cây đa, gốc gạo! Hãi thật!


Ông Trần Lâm Biền

2.  “Bái Đính – sự khoe mẽ một cách thái quá”

-  Ông Trần Lâm Biền cảnh báo: “không nên gọi cái chùa mới xây dựng là chùa Bái Đính, gọi như vậy hoàn toàn xóa sổ chùa của tổ tiên đấy!”

Ô hay! Có gì mà quan trọng, mà hoảng hốt vậy? Thì chùa Bái Đính cũ (Bái Đính Cổ Tự) vẫn còn đấy, vẫn là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo của dân xã Gia Sinh nói riêng và cư dân trong vùng nói chung. Chỉ có điều, cùng với quá trình xây dựng chùa mới, chùa Bái Đính cũ được trùng tu trang nghiêm hơn, tố hảo hơn mà thôi.

Bái Đính là tên gọi một cách cung kính thiêng liêng (Bái) về một địa danh (Đính Sơn – Núi Đính), nơi có đền thờ Thần Núi – Cao Sơn, có chùa cổ, có điện thờ Mẫu tương truyền do Quốc Sư Nguyễn Minh Không sáng lập, nơi vua Đinh Tiên Hoàng lập đàn tế cáo trời đất…

Phàm là du khách hay Phật tử có chút tri thức, có tâm và có thời gian khi đến Bái Đính mới xây dựng đều hành hương chiêm bái khu Bái Đính Cổ Tự, cách độ gần một km.

-  “Ngôi chùa mới đó có một sự lố bịch”. Tôi thực sự bị “sốc” trước nhận định nặng nề của ông T.L.B. nhưng cố nhẫn để đọc tiếp xem hay mình có chủ quan định kiến, bởi có không ít hơn 3 lần tôi đã tới cả Bái Đính Cổ Tự và Bái Đính mới xây, là người nghiên cứu Phật học biết chút ít về lịch sử Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, tôi vẫn tự hào về nó.

Kiên trì đọc, cố gắng lắm tôi mới hiểu được “cao ý” của ông Biền chỉ ra cái “lố bịch” của chùa Bái Đính mới: “…tháp Cửu phẩm liên hoa – là thế giới của người chết. Nhưng chùa Bái Đính mới ấy lại có cái gọi là tam quan – ba tầng mái ở ngoài, khiến người ta đến với cái chết trước khi đến với Phật… Cái chùa Bái Đính mới ấy là phi văn hóa  Phật giáo truyền thống và mặt nào nó có tính khoe mẽ”.

Ở một tầm hiểu biết chung chung, cơ bản nhất về Phật giáo, không ai quan niệm tháp Cửu phẩm liên hoa “là thế giới của người chết” như ông Biền hiểu! Nó là biểu trưng của quan niệm về “sự chết” để “sống” tốt hơn, đó là nhân sinh quan có tính nhân văn, nhân đạo rất cao của triết học Phật giáo.

Cũng vậy, không ai có chút kiến thức sơ đẳng về Phật học lại đồng nhất kiểu “kiến trúc ba tầng mái” với “tam quan” như ông Biền, để rồi phê phán. Kiến trúc kiểu ba tầng mái là mô - típ khá phổ biến trong các công trình kiến trúc cổ phương Đông, còn tam quan trong kiến trúc và triết học Phật giáo lại mang ý nghĩa khác.

Tam quan (còn viết và đọc là “tam quán”) là một phạm trù lớn, cực kỳ sâu sắc trong Duy thức học Phật giáo, là “không quan”, “giả quan” và “trung quan”: phải nhìn nhận, quán xét thế giới hiện tượng và sự vật đều là “không”, là “giả” nhưng đồng thời cũng phải có cái nhìn “trung” đạo, nghĩa là không “không” cũng không “giả”!

Đó là quan điểm nhận thức luận cực kì vĩ đại, thống nhất giữa biện chứng chủ quan và biện chứng khách quan của nhận thức luận Phật giáo, không dễ gì hiểu được. Còn trong kiến trúc, hầu hết mỗi ngôi chùa Việt đều có ba cửa ra vào (chữ Hán viết chữ “quan” này với nghĩa là cửa ra vào), cửa chính ở giữa là cửa “Từ - Bi – Hỉ - Xả”, hai cửa hai bên là cửa “phương tiện”; ba cửa này cũng được hiểu là “Tam môn” (cửa chính giữa là “Không môn”, cửa bên phải là “Giải thoát môn”, cửa bên trái là “Bất nhị môn”, đó là những phạm trù lớn trong hệ thống triết học Phật giáo)…

Không hiểu do cảm xúc chủ quan nào đó hay nông cạn về kiến thức, nhưng theo chúng tôi, rõ ràng sự phê phán “sự lố bịch” của ngôi chùa Bái Đính mới xây chỉ là “một sự phê phán lố bịch” không hơn không kém!

-  Ngôi chùa mới xây là “một sự khoe mẽ thái quá”.

Ông T.L.B. cho rằng: việc xây chùa Bái Đính to quá khiến cho khi bước vào chùa khiến cho tâm hồn người ta bị “ngợp”, bị teo bé, bị áp lực tinh thần nào đó…, rằng “sự vĩ đại của nó là ở cái tâm thánh thiện chứ không phải là hình thức. Có thể hiện tại cái hình thức đang làm mờ cái tâm nhưng khi cái trí của mỗi người phát triển cao hơn thì họ sẽ nhận ra đó là sai lầm”.

Tôi ngờ rằng ông Biền chưa phân biệt được sự khác nhau giữa cái “tâm” cái “trí” của triết học Phật giáo với cái “tâm” cái “trí” của thế gian. Nhưng thưa ông! Cứ theo lẽ thông thường, cái tâm con người có bị ngợp, bị teo nhỏ, bị áp lực…hay không là do ở nơi tâm thế, năng lực trí thức của con người, không gian và kĩ thuật – nghệ thuật kiến trúc…chứ không phải là to hay bé.

Hơn nữa, xét về tính qui mô và mĩ lệ, chỉ cần bước qua biên giới, tới thăm những danh lam thắng tích ở Côn Minh - Trung Quốc hoặc hai nước bạn Lào và Căm-pu-chia, thì một người dân Việt có lòng tự tôn dân tộc, có lương tâm và công bằng, có nên hạ bút phê phán chùa Bái Đính mới xây một cách nặng nề như vậy?

Đành rằng mọi sự so sánh đều khập khiễng nhưng trong mỗi đợt tham quan khảo sát, mỗi lần ngỡ nhìn một tòa văn chỉ, một ngôi đình làng Trung Quốc, tôi không khỏi chạnh lòng nghĩ về Văn Miếu - Quốc Tử Giám, về kinh đô Huế quê nhà đất Việt!

Bái Đính mới xây đương nhiên là còn chưa có cảnh quan thâm u cổ kính, nhưng năm mươi, một trăm năm sau, và lâu hơn nữa, thế hệ con cháu mới có những danh lam thắng tích do cha ông để lại, đủ để sánh vai cùng với các nước trong khu vực.

Ngôi chùa Quán Sứ (trụ sở của Trung ương Giáo hội Phật giáo nay) vốn xưa là ngôi chùa nhỏ của thôn An Tập, là nơi cho các sứ thần các nước theo đạo Phật tới lễ Phật trong khi chờ tiến triều, với bao hằng tâm hằng sản của các chư Tăng và nhân dân vào những năm ba mươi của thế kỷ trước mới có ngôi chùa mới trên nền chùa cũ để đến hôm nay chúng ta mới có một danh lam cổ tự không những là trung tâm tín ngưỡng của Phật tử trong và ngoài nước mà còn là điểm nhấn thu hút khách du lịch tới Thủ Đô đó là tấm gương về cái tâm, về trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với mai sau.

Tôi xác tín và mong rằng, “khi cái trí mỗi người phát triển cao hơn” , đất nước giầu mạnh hơn, thì những danh lam thắng tích càng được tu bổ, xây dựng mới to đẹp hơn chứ quyết không phải ngược lại như ông Biền dự đoán!


Cư sĩ Quảng Tuệ Lương Gia Tĩnh

3.  “Có thể ngành văn hóa cũng không biết đến điều ấy. Đến khi biết thì sự đã rồi”

Kinh quá! Mọi người đều không biết, vậy thử xem chỉ mình ông Trần Lâm  Biền biết và “dạy” những điều gì?

-  Ông cho rằng: “Đừng đem những ngôi chùa lớn vào đất chùa cũ”, “Dù nó có tàn phai thì vẫn để đấy”, xây chùa mới to lớn khang trang là phá hoại, làm méo mó tâm hồn dân tộc. “Một dân tộc có thiện tâm vô cùng cao quý nay lại chỉ quan tâm đến hình thức”.

Một tư duy không bình thường hay chủ ý đánh tráo khái niệm để ngụy biện?

Nhà ông… xưa nghèo khó chỉ lợp tranh vách đất, bàn thờ tổ tiên tạm bằng tấm ván đóng gá vào vách đất…nay con cháu khá hơn (chí ít thì theo mức sống lịch sử), nhưng không đủ tiền mua đất mới, chẳng lẽ lại không được xây một ngôi nhà mới trên đất tổ tiên cho to lớn khang trang hơn để ở, đặt ban thờ tổ tiên trang nghiêm tố hảo hơn hơn để thờ tự? Làm như vậy là phá hoại truyền thống gia đình, làm méo mó bản sắc gia phong?

Không phủ nhận hiện tượng “làm mới di tích” một cách tùy tiện có xu hướng ngày càng ra tăng, nó đã góp phần phá hoại di tích. Việc trùng tu tôn tạo di tích, đặc biệt là những di tích đã xếp hạng, đã được Luật Di sản qui định, và là mối quan tâm của các cơ quan văn hóa cũng như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, mà trực tiếp là Ban văn hóa thuộc Trung ương Giáo hội. Đây là câu chuyện hoàn toàn khác với việc xây một ngôi chùa mới, một ngôi tháp mới trên nền một ngôi chùa cũ, tháp cũ chỉ còn là phế tích – như ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh), tháp Tường Long (Hải Phòng) gần đây chẳng hạn.

Hơn nữa, vấn đề này cũng chẳng liên quan gì tới chùa Bái Đính mới xây mà ông Biền đang bàn.

Còn chuyện “cái tâm cao quí” và cái hình thức “to lớn khang trang”! Tôi hiểu rằng, với một cái tâm trong sáng, tròn đầy, tĩnh lặng thì có một hình thức trang nghiêm tố hảo cũng chẳng phương hại gì, mà chỉ có chiều hướng tích cực, tốt hơn cho cả hai. Biện chứng Mác - xít gọi là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, Nho giáo gọi là mối quan hệ giữa “văn” và “chất”, còn Phật giáo thì gọi là “Tâm” và “Tướng”!

-  Và cuối cùng, ông Biền cho rằng: “Đừng để những ngôi chùa kiến trúc mới (hẳn ông định tỷ như chùa Bái Đính mới) Tây không phải Tây, Tàu không phải Tàu…làm một cách tùy ý không theo kiến trúc truyền thống”.

Đọc qua nhưng không thấy ông Biền chỉ ra đâu là “Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu”, mà chỉ thấy ông dùng một mớ kiến thức hổ lốn Nho, Phật, Đạo (mà thứ kiến thức ấy cũng “không đến nơi đến chốn” – chữ của ông Biền) để phán: “một ngôi chùa hay đền, đình phải đạt chuẩn thông tam giới. Mái tượng trưng cho tầng trời. Đất – thân nó là nơi thần và người tiếp cận, cần phải được thông nhau”!; và cụ thể hơn, “nền đất phải để mộc, không được lát gạch men hoa, nếu có thì lát gạch bát thấm nước, mạch để rộng, gầm ban thờ phải để lộ đất…!”

Lủng củng quá, luận mãi rồi mới hiểu, rằng ông đã lầm lẫn giữa hai khái niệm cơ bản của Nho giáo là “Tam tài” (Thiên – Địa – Nhân) và Phật giáo là “Tam giới” (Dục giới – Sắc giới – Vô Sắc giới).

Còn theo “dòng truyền thống”, nhưng ông nói, là nền chùa phải để mộc, gầm ban thờ Phật phải để lộ đất “để âm dương không bị cách trở”…thì quả đúng là chỉ có ông Giáo sư Tiến sĩ Trần Lâm Biền mới biết được và làm được!

Tóm lại, chúng tôi khó chấp nhận những ý kiến của ông Trần Lâm Biền qua bài “Khó chấp nhận trên dòng chảy truyền thống”. Chúng tôi sẵn sàng trở lại vấn đề này trong những dịp thảo luận chuyên sâu hơn, mang tính học thuật cao hơn.

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (15 bài gửi)

Lãng Khách 31/05/2013 22:11:18
Nếu căn cứ thông tin Google (bộ máy tìm kiếm chính xác nhất hành tinh) thì Cư sĩ Quảng Tuệ Lương Gia Tĩnh:
1. Mê tín dị đoan, bói toán: "thần xà", "giếng sữa", "con nuôi - thần tài", dẫn chứng đây:
a. http://kienthuc.net.vn/doc-duong/201303/Ven-man-bi-mat-than-xa-nhap-doi-cung-bo-o-Ha-Noi-898342/
b. http://m.nguoiduatin.vn/gieng-sua-chi-chua-duoc-benh-tam-ly-a49801.html
c. http://www.nguoiduatin.vn/nhan-con-nuoi-ruoc-than-tai-a46541.html

2. Tán gái
http://www.webtretho.com/forum/f186/tuong-nguoi-the-nao-la-suong-915732/index4.html

3. Chỉ là cử nhân mà tự phong là giáo sư:
http://hvpgvn.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=441&Itemid=27

4. Nguy hiểm: Đem triết học Macxit tham chiếu vào Đạo Phật (như trong chính bài này)
Phong 19/05/2012 09:45:32
Văn hóa Việt có đặc trưng là nhỏ mà tinh, Bái đính có "nhỏ mà tinh" không? quý vị chắc tự hiểu. ngoài ra có vị cũng không thể hiểu hết ai bỏ tiền ra xây Bái đính, động cơ của họ xây làm gì,...và nhiều chuyện đằng sau và bên trong nó, bao giờ các vị biết thì chắc các vị tự rút ra kết luận về Bái Đính.
lamvien 01/06/2011 00:57:31
Theo tôi, ông GS TLB không hẳn là không lý khi ông đưa ra ý kiến nhận xét về kiến trúc to lớn của Chùa Bái Đính thậm chí là chùa Đại Nam ở Bình Dương sau này. Tôi không phải là Phật tử nên ít nhiều kiến thức về Phật pháp tôi cũng không rành, nhưng cái cảm giác nhỏ bé trước một cái to lớn thì cái đó tôi ghĩ ai cũng có, đặc biệt là những người đến chiêm bái lần đầu, họ cảm thất tự ti, quy phục. Đành rằng Ngài Quảng Tuệ Lương Gia Tĩnh nói là do kiến thức, bản lãnh mỗi người, nhưng tôi nghĩ người Việt mình đến với chùa đa phần cũng là dân thường cả đầy chứ, có mấy người đủ bản lãnh hay Phật pháp cao siêu đâu. Thử nhìn những người đi chùa mà xem, đa phần là các Bà, các Mẹ, các Chị. Mà Đạo Phật truyền bá nhiều là cũng từ họ mà ra cả đầy chứ, dân mình hiền từ nhỏ bé, họ thích tìm đến và "cảm" những gì gần gũi với họ hơn, đạo Phậm ngấm dần cũng thế, chậm chậm. Đặc biệt cái này thể hiện rất rõ bên Công Giáo. Nơi tìm đến của giáo dân là các nhà thờ, đa phần kiến trúc rất hoành tráng, to đẹp. Tôi là người ngoại đạo mà lần nào đến các nhà thờ do bạn bè người thân rủ đi thì cái cảm giác đầu tiên của tôi khi vào nhà thờ là thấy mình nhỏ bé, tức là gần như cái mô tả của Ông Giáo sư TLB kia, cái tâm của mình dễ bị teo đi. Tôi thấy mình như bị quy phục và tôi nghiệm ra các giáo dân ngu muội kia xin lỗi tôi dùng theo suy nghĩ của tôi lúc ấy) đa phần họ cũng là dân lao động tối mày tối mặt tìm đến nhà thờ (hay chùa) như tìm đến một sự bằng an, hay sự giải thoát tạm thời để quên đi cái thế giới thực,. Như vậy lúc ấy, công thêm tác dụng kiến trúc của ái nhà thờ kia, hầu như Ông Cha truyền đạo kia nói gì giáo dân cũng nghe. Tôi cho rằng Công Giáo có tốc độ truyền đạo nhanh hơn Đạo Phật gấp nhiều lần cũng một phần do lý do này. Cái này tôi nghĩ ai cũng kiểm nghiệm được. Như vậy cái này có thể nói Ông TLB cũng rất sâu sắc khi đưa ra nhận xét như thế. Một ví dụ tương tự khi bạn đi thăm Lăng Minh Mạng,Tự Đức thấy rất êm đềm, gần gũi nhưng khi thăm Lăng Khải Định lại có cái cảm giác khác hẳn, thấy mình tự ti, nhỏ bé trước cái kiến trúc hoành tráng mà có vẻ "đáng sợ, đe dọa" trên kia, cảm giác cũng gần giống như đứng trước ngôi chùa có kiến trúc quá to lớn như Bái Đính hay Đại Nam.

Còn về ông TLB phản đối xây dựng các chùa cao to, cái này tôi nghĩ cũng khó mà theo ông TLB. Khi xưa chưa có điều kiện thì xây nhỏ nhẹ. Bi giờ có điều kiện thì xây to lớn cho nhân dân có chỗ đến chiêm bái thoải mái cũng có lý thôi, không thể máy móc như cũ được.

Theo tôi, cái hay của đạo Phật là tìm về đơn sơ (không phải đơn giản), gần gũi con người, những cái biểu hiện hay "ăn theo" nó tất cũng sẽ như thế. Phật là tìm về trong tâm, những cái đi ngược lại nó thí chắc chắn là không phải. Cái đó mới là cái thâm sâu không cùng của đạo Phật. Người Nhật nhận xét rất hay về trà đạo. Họ cho rằng nghệ thuật uống trà cao thâm như Trà Đạo Nhật Bản là tuyệt đỉnh rồi, nhưng đến mức như thế thì rất phức tạp, trình tự, lễ nghi của nó rất rắc rối, tốn kém, ít người theo được chỉ có giới tinh hoa, quý tộc mới thưởng thức được mà thôi. Họ cho rằng kiểu trà đạo của Việt Nam mới là trà đạo đích thực, là "đời" hơn. Vì ở Việt Nam bất kỳ ai cũng uống trà được, uống bất kỳ lúc nào, bất kỳ chỗ nào, bất kỳ loại trà nào (Trà đen, đằng, vàng, và trà atiso, Hoàn Ngọc, khổ qua...) và với bất kỳ loại ấm pha nào (sứ, đất, nhôm, sắt... ). Giá như đạo Phật ở Việt Nam cũng được như thế thì hay biết bao.

Kính
LEFA 06/01/2011 14:32:14
Thưa các bạn,

Tôi có đọc một chút về ngôi chùa mới xây này mà chưa có dịp đến tham quan. Tuy nhiên có khá nhiều thông tin về ngôi chùa mới xây này nhưng có một vài điểm rằng các pho tượng La Hán đều là các bản copy từ một nơi nào đó ở Trung Quốc, một số chi tiết trong kiến trúc cũng phỏng theo motiv Phật giáo Trung Quốc. vậy hỏi các bạn ai biết điều đó có đúng hay không? Nếu đúng thì tại sao phải làm như thế? Theo thiển ý của tôi thì một ngôi chùa ngoài yếu tốt tâm linh còn mang theo nó cái hồn cái cốt của một dân tộc, chuyện xây to nhỏ tùy thời, tùy điều kiện kinh tế, nhưng những bản sắc của một dân tộc đó phải là chủ đạo, vậy nếu các bản copy La Hán kia là thật thì mãi mãi, dù sau này hàng vạn năm nó vẫn chỉ là bản sao chép mà thôi. Vài dòng bày tỏ, mong các cao kiến và các lý giải của các bậc thông tuệ.
Trân trọng
Chánh Đức Nghĩa 03/09/2010 18:36:09
Thưa quý đạo hữu!
Tôi có đọc bài viết của ông GS này trên báo và thấy buồn cười quá.Nhưng với quan niệm sống "Thường lạc vô tranh" nên tôi cũng chẳng để ý làm gì.Thấy quý đạo hữu có ý kiến trao đổi,tôi cũng muốn có vài ý kiến.
-Là GS mà không hiểu ông ấy căn cứ vào đâu để nói rằng cây Cửu phẩm liên hoa và kiến trúc ba tầng mái là biểu hiện của cõi chết?(Không có dẫn chứng từ sách vở nào).Tuy tôi theo pháp môn Thiền tông,nhưng tôi cũng biết rằng cây Cửu phẩm liên hoa là biểu hiện của cõi Tịnh độ.Mà trong quan niệm của người Phật tử,cõi Tịnh độ là một cõi sống,một thế giới khác cho nhưng ai có hạnh nguyện sinh về đó sau khi đã mãn phần ở cõi này.Vì vậy ta vẫn nói là siêu sinh Tịnh độ hay vãng sinh Tịnh độ chứ có ai nói siêu tủ hay vãng tử đâu.Còn tòa cửu phẩm biểu hiện cho cõi Tịnh độ đưoc chia thành ba phẩm lớn là Thượng-Trung-Hạ,mỗi phẩm lớn lại chia thành ba phẩm nhỏ là Thượng sinh,Trung sinh,hạ sinh.VD: Thượng phẩm thượng sinh,Thượng phẩm trung sinh,thượng phẩm hạ sinh.Người Phật tử tu Tịnh độ tùy theo nghiệp lực của mình mà sinh vào phẩm nào.Còn kiến trúc tam quan có ba tầng mái có ở nhiều nơi nhất là bên TQ.Ông ấy có dám đến chùa Quán sứ mà mói với quý thầy rằng kiến trúc tam quan ba tầng mái của chùa Quán sứ la biểu hiện của cõi chết không?
-Còn việc ông ấy phê phán xây chùa to thì tôi thiết tưởng ông ấy danh là GS về văn hóa dân tộc thì hẳn phải biết dưới các triều đại trước kia những ngôi chùa đươc coi là quốc tự thì nhà nước và chư tổ khi xưa cũng xây cất to lắm mà ngày nay ta có phục dựng còn chưa bằng.VD như các chùa: Diên Hựu, Báo Thiên, Báo Ân, Phật Tích, Phổ Minh, Bút Tháp,Keo,viện Quỳnh Lâm...và những ngôi quốc tự ở Huế như Thiên Mụ, Báo Quốc,Từ Đàm...
Chỉ có những ngôi chùa làng do eo hẹp về kinh phí mới làm bé nhỏ thôi.
Thiện Tánh 03/09/2010 16:00:06
Triều đại nhà Lý có các vị Thiền sư tài đức được phong là Quốc sư :

-Quốc sư Vạn Hạnh (? – 1025)
- Chùa Lục Tổ, Tiêu Sơn.
- Vua Lý Thái Tổ.(974 -1028 )

-Quốc sư Không Lộ(1016-1094) - Sư Tổ chùa Thẩm Quang,tức chùa Keo tỉnh Thái Bình
-Vua Lý Thánh Tông(1054-1072)

-Quốc sư Minh Không(1066-1141)
–Sư Tổ chùa Quỳnh Lâm,tỉnh Quảng Ninh
- Vua Lý Thần Tông(1128–1138)

- Quốc sư Thông Biện(?–1134) - Sư Tổ chùa Khai Quốc
- Hoàng Thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân (Vương phi Ỷ Lan )
( Kính xin đượclắng nghe ý kiến của quí vị. xin lien hệ: website: phathoangvietnam.com (Thiện Tánh)
Sơn Hà 02/09/2010 09:36:20
Phải chăng TLB là vị GS phải xét lại.Một vị GS gì mà hồ đồ , hàm hồ như thế ! Theo ông ta là Đình ,Chùa,di tích cứ phải giữ lại khuôn mẫu bé nhỏ và như cũ... Phải chăng để không có chỗ Phật tử đến Lễ Phật và nghe Pháp... để Phật ,Pháp suy tàn và nơi thờ Thần như Đình và miếu cũng chịu chung số phận như Chùa vậy phải chăng ( ! )
Phải tìm hiểu cho kỹ và xét lại con người GS Trần Lâm Biền !
Phúc Trực (Cầu Giấy - Hà Nội) 01/09/2010 22:23:33
Kính thưa quý Đạo hữu!
Nhà Phật lấy từ bi - hỉ xả làm phép ứng xử với đời, nhưng với những vị "GS" như TLB thì cần phải cảnh giác và dùng trí tuệ để vạch rõ chân tướng.
Đơn cử mấy năm trước khi đình Đa Phú - gần phố Dương Quảng Hàm - Câu Giấy - HN chuẩn bị trùng tu thì BQLDT gồm những vị cao tuổi về hưu có họp và trân trong thỉnh vị "GS" khả kính TLB.
Ông ta đến (tôi dùng từ hơi thô thiển - vì không thể hơn được), bằng một mớ kiến thức chiết trung, hổ lốn, rối rắm đã đánh lừa được BQLDT... và 1 trong 1 số kết cục xấu là đã cho chặt bỏ 2 cây đa rất đẹp mấy chục tuổi đang tươi xanh trước sân đình, vì lý do, "GS" đã phán "xanh rờn": để cây đa trước đình như vậy là sái, làm chỗ cho yêu ma quỷ thần đến trú ngụ, gây nên mộng mỵ cho dân chúng.
Khi "các cụ" hiểu ra thì cây đã bị đốn. Chúng tôi vẫn còn căm ông ta. Nhiều vị muốn trả thù cho bõ ghét, nhưng kết cục thì vẫn chưa làm gì và ông ta vẫn còn đang yên ổn. Chỉ có điều tuyệt đối không dám bén mảng nữa!
Kể 1 trong vô vàn lỗi lầm của ông ta ra đây với mong muốn ông ta nhận chân mà sám hối và chư Đạo hữu tránh xa ông ta và đồng bọn họ ra.
A Di Đà Phật!
Tấn Phát 01/09/2010 14:00:50
Thật nưc. cười... ! một GS mà nói Đạo Mẫu có nguồn gốc như thế ! Thưa ông GS Trần Lâm Biền : Ông cho biết địa chỉ của ông để Thủ nhang ở Phủ Dày gửi "biếu" Ông 2 quyển sách :
- Tam tòa Thánh Mẫu
- Tứ phủ và Đạo Mẫu...
Cả 2 quyển này đều có giấy phép XB và có Tác giả hẳn hoi...
Thưa ông GS Lâm Biền: Đúng thực Tổ Tiên,Ông,Bà ta ngày xưa Xây Chùa (làm chùa )đa phần là thấp và vừa phải(không cao). Thời đó là Vậy!Ở thôn quê có không ít ngôi chùa phải "Tiêu thổ"trong kháng chiến chống Pháp... Ngày nay xây dựng lại, với Dân số gấp cả trăm lần, nếu theo ông cứ giữ nếp chùa cổ thì kỳ quá!!! Tôi thiết tưởng tại Ninh Bình có Nhà thờ Phát Diệm nguy nga và hùng vĩ như vậy( Một điểm di tích để chiêm bái ).
Tại sao Chùa Bái Đính Cổ lại không được phép mang tên ? ( ! )để mở rộng diện tích, khuôn viên,phong cảnh chùa...
Thuở xưa Ngài Minh Không là Quốc Sư thời Lý,Bậc Chân Tu Tôn kính luôn luôn được mời vào Cung để Thuyết Pháp,đàm Đạo cùng Vua,tôi Nhà Lý...( Thiền tuyển tập Anh đã ghi rõ ). Việc phát lộ Hoàng Thành và kỷ nệm 1000 Năm Thăng Long, hơn nữa Dân số bây giờ gấp cả trăm so với thuở xưa và thưa ông GS Lâm Biền Di Chúc Bác Hồ Ông đã xem chưa ? ( con cháu lớn rồi xắp xếp lại Giang Sơn...- có Nhà thơ Cách mạng đã viết như thế -đó !
Ngay như thực tế bây giờ , cạnh ngôi nhà cổ do ông bà để lại, con cháu xây dựng 1 tòa "vi na"... mới có chỗ ở cho con,cho cháu,cho chắt ...chứ ( ! )
Còn theo ông thì phải thế nào thưa ông GS ?
Thiện Tánh 01/09/2010 03:04:18
NAM MÔ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
NAM MÔ THÍCH QUẢNG ĐỨC BỒ TÁT
Triều đại Nhà Lý-Nhà Trần , toàn dân toàn tâm qui hướng Phật Đà, Đất nước quê hương hương trầm tỏa ngát, xóm làng an vui đường thôn trăng sáng, nhà nhà đêm khuya không đóng cửa và thanh thoát tiếng chuông chùa nối bậc ngân nga..thật là thanh bình, thật chân hạnh phúc trong hòa kính Lục hòa, hành trì Thập thiện,
Mái Chùa che chở hồn dân tộc,
Nếp sống muôn đời của Tổ tông
Thời đại Đinh-Lê-Lý-Trần,có bốn vị Hòa thượng Quốc sư : Khuông Việt-Pháp Thuận-Vạn Hạnh-Viên Chứng, cùng bốn đức vua Phật tử : Đinh Tiên Hoàng-Lê Đại Hành-Lý Thái Tổ-Trần Nhân Tông. và dân tộc Việt Phật giáo đã tiếp nối chung tay cứu nước, giữ nước, dựng nước và mở nước trong tinh thần Bi-Trí-Dũng, làm rực sáng trang sử Việt, rạng danh giống Lạc hồng, cả năm châu thời ấy, đều tâm phục trước tài đức khiêm từ của tổ tiên tộc Việt !
Trước 1000 năm Thăng Long Hà nội được sinh ra bởi Hòa thượng Quốc sư Vạn Hạnh-Đức vua Phật tử Lý Thái Tổ, sau 1000 năm Thăng Long Hà nội được dưỡng nuôi bởi Hòa thượng Quốc sư Viên Chứng-Đức vua Hòa thượng Trần Nhân Tông.(Nếu không có Tổ tiên tộc Việt Phật tử đời Trần, thấm nhuần chân lý Phật Đà-Bi,Trí,Dũng., đoàn kết hô vang”Quyết chiến” tại Hội nghị Diên Hồng-Bình Than (hòa kính Lục Hòa) thì có đâu sức mạnh Bi-Trí-Dũng để chiến thắng ác tặc Nguyên Mông ? thua thì dân tộc Việt Nam đã không còn từ thuở ấy ! Hoàng thành Thăng Long cũng mất luôn. Vì vậy, công đức của Tổ tiên thật là vô lượng vô biên đối với Tổ quốc Việt Nam, với thế giới nhân loại, pháp giới chúng sanh…

( Truyền thống của quân Mông cổ, mỗi khi bị bại tại một mặt trận nào, không bao giờ họ chịu nhịn, họ sẽ dốc quân nghiêng nước sang trả thù, cho đến lúc đạt được chiến thắng toàn bộ mới thôi. Khi Mông cổ sang đánh Việt Nam lần thứ nhất năm 1258, là lúc họ cực thịnh, họ đã chiếm đến 9/10 lãnh thổ Trung quốc, toàn bộ các nước Á Châu như: Kim, Liêu, Tây hạ, Thổ phồn, Cao ly, Tây tạng, Afganistan, Hồi. Họ cũng đã chinh phục toàn bộ các nước vùng Trung Đông, các nước Âu châu như: Đức, Hung, Ba lan, Tiệp khắc, Liên xô. Rồi khi họ sang đánh lần thứ nhì (1284-1285) và ba (1287-1288), là lúc họ chiếm trọn Trung quốc.(Tả thừa tướng Lục Tú Phu cõng vua Tống 10 tuổi trốn chạy, cùng đường trầm mình chết và đám tướng sĩ Nho gia cũng chết theo vua con, mang theo khí tiết quân tử Nho !.) Có thể nói, lúc đó quân của họ đông gấp nghìn lần quân Việt. Thế sao, sau ba lần bị đại bại thảm hại, họ lại im lặng chịu nhục, không diệt hết dân Việt như họ đã làm tại các nước Trung-Đông,Âu-Châu?)
Là người Việt Nam, dù sống ở đâu, chúng ta đều tự hào hai tiếng “Việt Nam” và yêu thương đùm bọc anh em mình.
Nước sông kia khơi nguồn nước chẩy
Hạt thóc nọ có cấy mới lên
Từ phàm phu, đến thánh hiền.
Hiếu ơn Tiên tổ mới nên thân người.
Vậy mà đâu đó, còn vang lên những lời ác độc, câu chữ vọng ngoại vong bản mất gốc, ăn phải bã ngoại lai, giả danh Phật tử cùng đóng vai diễn tuồng…như một vài bài viết về sự kiện Rước Xá Lợi Phật, xây Chùa, đúc tượng…Những tiếng quạ kêu, rắn rít, cọp gầm làm cho cuộc đời bất an bởi gieo rắc hận thù đố kỵ, “Nguyện xin lòng người không còn Tham-Sân-Si-hận thù, Nguyện xin nhân gian tràn đầy Bi-Trì-Dũng-yêu thương”
Kính chúc quí Thiện hữu tri thức : Quảng Tuệ Lương Gia Tĩnh, Khanhhy_1, Trần Tiến, NAMOYTS, Nguyen. Thân tâm sức khỏe Bi-Trí-Dũng, tri hành Bồ Tát hạnh, phát Bồ Đề Tâm. Hoằng pháp lợi sanh, an vui pháp giới.

Lời Phật dạy.
Chăm làm những việc lành
Lánh xa các điều ác
Giữ tâm ý thanh tịnh
Là lời chư Phật dạy.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
nguyen 30/08/2010 14:49:45
Nam Mô A DI ĐÀ PHẬT.
Chùa to để cho Phật tử có nơi chiêm bái, chánh pháp mới thịnh hành. Ví dụ : chùa Hoằng Pháp là nơi tu tâp của rất nhiều Phật tử. Ta nên làm một ngôi chùa giống như vậy.
Nguyen Van Thai 30/08/2010 12:53:04
Nam Mô Việt Nam Phật Giáo lịch đại Tổ Sư
Phattuvietnam.net là trang nhà của các tín đồ Phật tử Việt Nam, nhận được sự quan tâm, yêu mến của các phật tử là chuyện hiển nhiên. Qua đọc bài phản biện của cư sĩ Quảng Tuệ Lương Gia Tĩnh tôi thấy các phận tích rất công phu, thể hiện kiến thức Phật học cao rộng và rất cảm tình với Phật giáo, hàng hậu học chúng tôi cũng mở mang tầm nhìn tuy nhiên lời văn hơi có phần gay gắt có nhiều chất "sân". Thiết nghĩ ông TS Trần Lâm Biền là người có thâm niên nghiên cứu văn hóa Việt Nam, trong đó có văn hóa Phật giáo, phải có tình yêu với văn hóa Việt, với Phật Giáo thì ông TS Biền mới có những công trình nghiên cứu được nhiều người tìm đọc và dẫn chứng. Ông TS Biền cũng chỉ góp ý kiến phản biện giúp cho các Phật tử cũng như Phật giáo thận trọng hơn để hoàn thiện và phát triển. Trên con đường chúng ta đang đi và đưa Phật giáo Việt Nam phát triển nhất là trong thời kỳ hội nhập đúng là có nhiều cái mới mà chư tổ chưa từng làm, có nhiều công trình chưa từng có, có nhiều sự giao lưu tiếp nhận mới thì chúng ta cần phải có những ý kiến phản biện, cần phải cảm ơn vì họ có bản lĩnh giám nói ra cái chưa tốt ( theo quan điểm của họ ) để chúng ta hoàn thiện hơn, vững vàng hơn. Lịch sử Việt Nam từng có một con cóc quay ngược hướng với ba con còn lại trên mặt trống đồng, hay chỉ có "99 con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương" hay Chùa Hương có một con voi bị chặt đuôi vì không quay đầu vào lế Phật đó là lịch sử và truyền thống Việt Nam và cũng là thông điệp của tiền nhân.
Rất mong quý đạo hữu không vì sự ưu ái để người ngoài có cớ nói rằng các Phật tử chỉ biết bênh nhau, tán dương và quan điểm chỉ có một chiều.
NAMOYTS 30/08/2010 00:23:26
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Đạo hữu tôi thấy bài viết vô cùng xúc tích, lời văn sâu sắc, luận chứng thì chính xác thể hiện tầm hiểu biết về Chánh Pháp, về Phật học rất uyên thâm (xin mạn phép được nêu ý kiến cá nhân).
Đạo hữu tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả bài viết và cũng chân thành cảm ơn tác giả
Tran Tien 29/08/2010 19:01:58
Qua bai viet cua D/hQuang Tue Luong Gia Tinh chung ta moi thay su han hoc can tau rao man cua mot TS,nhung toi muon hoi GSTS tran Lan Bien la :The nao la GIONG TRUYEN THONG? Vi, Lich su Kien truc,van hoc,nghe thuat,hoi hoa v..v la nhung giong chay lien tuc giao luu voi nhau,tu Van minh HY-LA den van minh AI CAP,Trung Quoc,An Do da tro thanh nhung trung tam can tim hieu va nghien cuu.
Nhung toi muon hoi ong GS TS TLB co dam lam mot LUAN VAN TIEN SI la:Nghe Thuat Kien Truc cua NHAT BAN khong co "Giong Truyen thong"khong?hay Quoc hoi My (USA) la bat chuoc cua Hy Lap va La ma khong?
Rat tiec la ong TS TLB dang xoay mot vong trong tinh con lac hau,kem xay dung trong vai tro cua mot nguoi muon xay dung va lam dep nhubg di tich trong tuong lai.Den day toi nho mot thoi ky hoc trung hoc co mot vi thay day noi rang:Tai sao Viet Nam chung ta khong co nhung cong trinh lon nhu Ankor Wat hay Van Ly Truong Thanh khong? Sau mot hoi dua ra nhieu y kien.Thay giao cho biet Tat ca chi vi nguoi Viet co nhieu do ky,
cam ghet v..v nen cac cong trinh to lon khong duoc xay dung.
Nhung qua bai viet nay toi hieu them ong GS TS TLB theo tac gia cho biet la;"Mot tu duy khong binh thuong hay chu y danh trao khai niem de nguy bien" con theo toi ong Gs TS TLB "Co mot am muu den toi danh lan con den lam rao cang pha hoai su xay dung PG hien nay
khanhhy_1 29/08/2010 17:58:14
A DI ĐÀ PHẬT !
Đọc bài viết của Quảng Tuệ Lương Gia Tỉnh trên, chúng tôi rất đồng cảm với nội dung phản biện đến GS.TS Trần Lâm Biền. Nhưng trước cái mới và cái cũ, nhận thức về thuần phong mỹ tục hay hủ tục, về tạp tín dị đoan hay phương tiện tùy duyên mà tiền nhân giáo hóa đạo đức xã hội...Những gì chúng ta hôm nay cần phải giữ gìn nguyên bản, điều chi nên cách tân hay có những thứ không cần thiết phải giữ vì không còn thích hợp, không có giá trị văn hóa đạo đức xã hội ...
Kính thưa quý vị! Theo Khánh Hỷ để có một sức sống mang tính truyền thống Dân tộc Việt Nam thì chắc hẳn chúng ta sẽ có cảm giác tự hào rằng"Tổ tiên Việt Nam là dân tộc hiếu hòa, hiếu kính, bất khuất và đầy sáng tạo quyết không nô lệ ...". Người tín ngưỡng Phật giáo thì sẽ thấy rằng tinh thần Bi-Trí-Dũng nhưng đầy tính Vô ngã-Vi tha...là truyền thống quý báu để Phật giáo Việt Nam luôn Tùy duyên nhi Bất biến mà đồng hành với Dân tộc suốt mấy ngàn năm lịch sử đã qua. Ngày nay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Tăng Ni, Phật tửtrong-ngoài nước đang ra sức tô bồi truyền thống tốt đẹp ấy; rất cần những lời nói những sự kiến giải trên nền tảng chánh tư duy và chánh ngữ thì quý giá biết dường nào. Nguyện cầu Dân tộc Việt Nam luôn tự hào lúc nào mình cũng có sức mạnh tự thân và trí tuệ tập thể để xứng đáng với tiền nhân .
tổng cộng: 15 | đang hiển thị: 1 - 15
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả