Từ “A Mi Đà Phật” lại nghĩ thêm về vấn nạn của Phật giáo VN
image

Là Phật tử Đông độ - phương Đông, nhất là ở VN, ai cũng biết 6 chữ “Nam mô A Di Đà Phật” là tông chỉ, là cốt lõi, là Tam Bảo của Tam Bảo. Sáu chữ này còn thì Phật giáo còn, 6 chữ này mất là mất Phật giáo, 6 chữ này thay đổi là Phật giáo, nhất là PGVN thay đổi = tha hóa = biến chất.

 

Chỉ bốn ngày sau khi bài Suy tư về vấn nạn loại Tăng ra khỏi Tam Bảo của tác giả Thích Giác Tâm với lời cuối: “Kết thúc bài này bằng cách bắt chước cách niệm Phật của các cụ bà, cụ ông miền Bắc cả ngàn năm nay: Con niệm Nam Mô A Di Đà Phật”, được trang nhà Phattuvietnam.net đăng tải, thì đã có tới gần 70 phản hồi được BBT cho công bố.
 
Trong các phản hồi đó có rất nhiều vấn đề đáng suy nghĩ, kiểm định và đáng tiếp tục rung chuông báo động, nhất là trước thềm đại hội Phật giáo các cấp, tiến tới Đại hội GHPGVN toàn quốc lần thứ VII.
 
Trong đó có một vấn đề được đặt ra, càng nghĩ càng thấy không phải là nhỏ, đó là tính chân xác và tính thực tiễn của việc đề nghị/ và đang ráo riết phổ biến việc thay sáu chữ chân ngôn “Nam mô A Di Đà Phật” thành bốn chữ “A Mi Đà Phật”.
 
Là Phật tử Đông độ - phương Đông, nhất là ở VN, ai cũng biết 6 chữ “Nam mô A Di Đà Phật” là tông chỉ, là cốt lõi, là Tam Bảo của Tam Bảo. Sáu chữ này còn thì Phật giáo còn, 6 chữ này mất là mất Phật giáo, 6 chữ này thay đổi là Phật giáo, nhất là PGVN thay đổi = tha hóa = biến chất.
 
 
Dưới đây chúng con xin trích dẫn lại một số ý phản hồi khác nhau của quý độc giả:
 
1. “Chúng ta niệm A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật đều được cả, từ A Di Đà Phật thì đã từ xưa tới giờ còn từ A Mi Đà Phật là sau này và đã có người đính chính câu đó là đúng do chính Hòa thượng Chủ tịch Giáo Hội PGVN Thích Trí Tịnh đã nói và hành trì nếu bạn nào ko tin thì có thể lên chùa Vạn đức thực chứng”.
 
2. “Chính HT Chủ tịch HĐTS GHPGVN cũng đã dùng chữ A MI ĐÀ PHẬT. Trong cuốn PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ, HT đã dùng tới 11 lần chữ A MI ĐÀ PHẬT và 55 lần chữ A DI ĐÀ PHẬT.”
 
3. “Chúng ta không nên chấp nhất vào văn tự nữa mà hãy xả hết, như chư Tổ cũng thường nói: Trước Phật Oai Âm Vuơng còn không có tên chúng sanh đó là đạo”. Chữ A MI ĐA PHẬT hay A DI ĐÀ PHẬT HAY AMITABHA cũng đều nói đến đức Phật A DI ĐÀ.
 
4. “Trong một đạo tràng người niệm Di nguời niệm Mi, nghe không được đồng âm lắm …. Muốn phát sinh từ mới thì họp Hội đồng Trị sự để mà thay đổi. Một người A hay B nào đó, có ăn học một tí rồi tự ý thay đổi, ai cũng làm vậy thì một thời gian, nghe nó loạn hết "A Di Đà Bụt" "A Lô Đà Bụt"…”.
 
5. “Và quan trọng hơn, chính xác hơn, đó là thời gian vừa qua PHÁP SƯ NGỘ THÔNG - pháp tử của NGÀI TỊNH KHÔNG PHẬT SỐNG từ đất Phật ĐÀI LOAN trở về truyền ĐẠO tại nước ta, đã tuyên thuyết rằng…: "Ở VN, Tăng Ni Phật tử niệm ADI ĐÀ PHẬT là sai với nguyên tác kinh điển và không phù hợp với cách niệm của tiếng Đài Loan và tiếng Anh... Niệm như vậy sẽ không có mầu nhiệm, không có thần thông. Phải niệm A MI ĐÀ PHẬT thì mới đúng mới có hiệu quả màu nhiệm".
 
"Nguyên nhân của sai lầm đó là do thời nhà Nguyễn có 1 vị công chúa tên là Công tằng Tôn Nữ Thị MI, nên để tránh HÚY nhà chùa phải đọc chại thành DI. Cứ vậy rồi thành quen, các Thầy trong nước không được học hành chu đáo nên cứ tưởng là đúng"
 
"Nay đã có các quý Thầy đi du học từ Đài Loan về, có trí tuệ, cần phải giúp trong nước sửa chữa các sai lầm đó".
 
6. “Xin thưa, ai cũng biết lục tự Di Đà là …(Nam Mô A Di Đà Phật), kiến thức Phật học của Mèn tôi còn hạn hẹp, tôi phải sử dụng từ điển Hán - Việt để tra cứu, tất cả các từ điển Hán Việt đều viết chữ …"phiên âm tiếng Việt đọc là Di", vậy thì Mi đọc ở đâu?
 
Còn nếu đã cố tình chấp vào ngôn tự để đọc tụng "cho được nhiệm mầu, mong cầu có được thần thông" thì phải đọc ngôn ngữ Pali ….”
 
7. "Hơn nữa, còn có nhiều sai lầm, lệch lạc khác như kinh sách, nghi lễ, trang phục, kiến trúc, thờ tự,v,v, cũng cần phải thay đổi, làm sao cho PGVN được như PG Đài Loan..."
 
8. “Con xin đề nghị, để đáp ứng nhu cầu của đông đảo Phật tử và phù hợp với tính chính xác của kinh điển, TWGHPGVN nên có thông bạch cho Tăng ni Phật tử cả nước từ bây giờ không dùng A DI ĐÀ PHẬT nữa, mà chỉ dùng A MI ĐÀ PHẬT”.
 
9. TẤT NHIÊN LÀ THÓI QUEN ĐÃ QUÁ LÂU NÊN CŨNG CẦN CÓ THỜI GIAN MỚI SỬA SAI ĐƯỢC, VÀ CÁC THẦY NÊN LÀM GƯƠNG MẪU, NIỆM: A MI ĐÀ PHẬT.
 
Tuy vậy, chắc là sẽ không lâu lắm đâu, vì vừa qua, chỉ cần PHÁP SƯ NGỘ THÔNG và một số đệ tử với sự giúp đỡ nhiệt tình của các quý Thầy trong nước, đi rao giảng một số nơi, vậy mà A MI ĐÀ PHẬT đã khá là phổ biến.”
 
10 “Trong khi ta " Năm mô Lin chì hai hội phật bố tát" không hiểu... không hiểu... người Việt tụng kinh theo âm ngoại, mặc áo Hải Thanh”.
 
11. “Tín đồ Phật Giáo cũng "Sính Sư Ngoại" như: Mời Sư nước ngoài về giảng và hành lễ. Treo tranh ảnh Pháp Vương, Nhiếp Chính Vương, Cụ Tịnh Không v.v.... Tụng Kinh tiếng "Ngoại" như: Om pa ra....; Ga tê ga tê.....; Rồi A Mi Ta ...v.v...;”
 
12. “Trong khi các Bậc Cao Tăng hay Đại Danh Tăng trong nước như: Đức Đại Lão Hòa Thượng Pháp Chủ GHPGVN Thích Phổ Tuệ, Đức Đệ Nhất Phó Pháp Chủ kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự TW GHPGVN Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh v.v.. Các Ngài đều gần 100 tuổi, xuất gia trọn cả cuộc đời tu hành chân chính, là những bậc danh Tăng xuất chúng xứng đáng là tấm gương cho chúng ta noi theo thì lại không ai treo ảnh!
 
Kinh sách thì do chính Các Ngài đã phải trọn cả cuộc đời này dày công nghiên cứu, phiên dịch từ các thứ chữ ra Tiếng Việt để chúng ta dễ dàng đọc tụng thì lại bị xem thường! Thật là uổng phí cả kiếp người! Thực đúng là: "NGỌC TRONG NHÀ MÀ KHÔNG BIẾT"!!!”
 
13. “Một số các vị Tăng - Ni giờ thích sính hàng ngoại. Người Việt, tu sỹ Việt nhưng lại thích vận đồ tu sỹ Trung Hoa (Đài Loan), Mời Pháp Sư Ngộ Thông (người Việt, tu bán thế ở Úc Châu) về VN tuyên truyền, tụ tập bỏ nội theo ngoại.”
 
14. “Xuyên suốt một chiều dài lịch sử của dân tộc, cho dù ở Triều đại nào, chế độ nào (kể cả ở thời chế độ độc tài gia đình trị "Diệm - Nhu", thì các Bậc Cao Tăng Việt Nam vẫn kế thừa Chư vị Lịch đại Tổ Sư VN xiển dương chánh pháp của Phật Đà.( ở Thế Kỷ 21 này cũng có rất nhiều các bậc Danh tăng thạc đức đang nối gót các Bậc tiền bối để hoằng dương Chánh Pháp, như: HT đệ Tam Pháp Chủ, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Giáo Sư Lê Mạnh Thát, Thượng Tọa Thích Chân Tính, TT Thích Chân Quang, TT Thích Nhật Từ, TT Thích Minh Hiền Chùa Hương, SC Hương Nhũ, ...).
 
Vậy có nhất thiết phải "sính ngoại" để mong PGVN ĐƯỢC GIỐNG NHƯ PG ĐÀI LOAN không?
 
Xin hãy là chính mình, là những tu sỹ VIỆT NAM, là Hậu duệ của Trần Nhân Tông đệ Nhất Tổ, Pháp Loa đệ nhị Tổ, Huyền Quang Tôn Giả đệ Tam Tổ để truyền bá Chánh Pháp của Phật Tổ, đừng bỏ gốc theo ngọn, đừng bỏ nội sính ngoại nữa.”
 
Chúng con xin có một vài ý kiến như sau:
 
Thứ nhất,
 
- Việc viện dẫn, HT chủ tịch có chủ trương thay A Di Đà Phật bằng A Mi Đà Phật là không có cơ sở. Đúng là trong cuốn “Pháp môn niện Phật” đứng tên HT có dùng
Phạn:     अमिताभ Amitābha, Amitāyus
Trung:     阿彌陀佛(T) / 阿弥陀佛(S)
Bính âm: Ēmítuó Fó
Wade-Giles: E-mi-t’uo Fo
Nhật:     阿弥陀如来 Amida Nyorai
Hàn:     아미타불 Amit'a Bul
Mông Cổ:     ᠴᠠᠭᠯᠠᠰᠢ ᠦᠭᠡᠢ ᠭᠡᠷᠡᠯᠲᠦ
Цаглашгүй гэрэлт
Tsaglasi ügei gereltu
Одбагмэд Odbagmed
Аминдаваа Amindavaa
Аюуш Ayush
Tây Tạng:     འོད་དཔག་མེད་
od dpag med
Ö-pa-me yoong toog taaa
Việt:     A di đà Phật
chữ A Mi Đà Phật 11 lần, nhưng đều là trong các bài ghi lại, tóm lược đại ý, có thể do phương ngữ miền Nam, có thể dùng như một dạng khảo dị - tham khảo chứ không phải là chủ đạo. Trong khi đó chữ A Di Đà Phật được dùng nhiều gấp 5 = 55 lần, lại ở trong các chính bản văn tự, có tính chủ đạo, phổ biến.
 
- Việc Thầy Ngộ Thông dẫn lý do tránh húy (Mi phải chuyển thành Di) là hoàn toàn không có cơ sở, cả về lôgic và lịch sử. Không đời thuở nào Tên 1 vị Phật lại phải đổi để tránh tên 1 vị công chúa (!), huống hồ chữ Di đã có và đã được dùng trong chứ A Di Đà Phật từ trước đời Nguyễn rất, rất lâu rồi! Và trong thông sử nhà Nguyễn cũng không có ghi chép chuyện đó.
 
Do vậy đề nghị cho kiểm định lại tính xác thực của thông tin. Nếu quả thật Thầy Ngộ Thông có thuyết pháp như vậy trên pháp tòa, trước đại chúng thì thật là một điều đáng tiếc.
 
- Theo chỗ chúng con được biết, trong các kinh điển và từ, tự điển chứ Di không có thể đọc thành Mi, và không có chỗ nào chữ Mi lại được nằm trong từ A … Đà Phật.
 
- Tri thức của chúng con còn rất nhỏ bé kính mong các bậc chân tu thực học, cao minh chỉ giáo!
 
Do vậy, nếu sự lý giải trên là đúng thì, không có lý do gì, người Việt, PGVN lại đọc, viết và niệm A Di Đà Phật thành A Mi Đà Phật. Ngoại trừ, đó là người kém phúc bị tật nói ngọng, sính phát âm – nói, tụng, niệm theo kiểu ngoại quốc, ngoại ngữ, hay có dụng ý sâu xa nào khác!
 
Còn việc cho rằng thế nào cũng được, thực chất chỉ là một sự khờ khạo dễ dãi vô nguyên tắc mà thôi. Còn nếu có dụng tâm thì điều đó tất yếu đi đến khẳng định là nên niệm A Mi Đà Phật. Và rồi sự chiết chung đó tất yếu sẽ là: chùa xây kiểu gì cũng được, cũng đều là thờ Phật cả; và rồi Đạo nào cũng được!
 
Thứ hai,
 
- Việc xuất hiện ngày càng nhiều và hoạt động ngày càng ráo riết của các Ban hộ niệm, đạo tràng, tổ cư sĩ Phật tử độc lập, ly khai khỏi Tăng đoàn, nằm ngoài sự lãnh đạo của các cấp GH là một thực tế đáng báo động. Theo chỗ chúng con được biết, thì ở HN, HP, Nam Định, v,v, tình hình này là phổ biến, với quy mô từ vài chục tới vài trăm người, thậm chí là một hiệp hội hoặc doanh nghiệp, cơ quan.
 
Họ tụ tập nhau lại, có sinh hoạt, có hoạt động Phật sự, từ thiện, lễ bái, tụng niệm, hành hương, bầu ra chúng trưởng, tổ trưởng. Khi cần thì mời/ thuê các Thầy tới thuyết giảng, lập đàn quy y… GHPG các cấp không có chế tài gì để ảnh hưởng tới họ. Do vậy nhiều quý Thầy có danh tiếng đã được họ mời tới các địa phương mở đạo tràng, thuyết giảng mà không cần biết đến các cấp Giáo hội.
 
Do vậy có thể nói, tuy họ ly khai Tăng đoàn, nhưng vẫn dựa vào 1 lực lượng, một thầy nào đó. Và tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn khi họ dựa vào đó để phản ứng lại GH địa phương mà lại luôn cho mình là đúng!
 
Nếu ai cũng làm như vậy, các Quý thầy từ nước ngoài vào, trong Nam ra, gọi là đi truyền Đạo, đi hoằng pháp, rồi phát lịch, phát tán sách, băng đĩa, lôi kéo Phật tử, gây dựng các đạo tràng, tổ độc lập, gây áp lực đòi thay đổi cái nọ, thay đổi cái kia.
 
Việc Thầy Ngộ Thông – mang danh đệ tử của Pháp sư Tịnh Không (!) đi rao giảng ở Hà Nội, Vĩnh Phúc và nhiều nơi khác thời gian vừa qua, với sự trợ giúp của nhiều quý Thầy trong GH và sự hưởng ửng của đông đảo các chùa và Phật tử, không biết GHPGVN, Thành hội PGHN có được biết không? Song rõ ràng là ở đây có sự thiếu rõ ràng, mong nhận được chia sẻ từ các bên hữu quan.
 
- “Nam Mô A Di Đà Phật” mà họ/ chúng ta, dám nói/ nghe xúi bẩy, bùi tai còn định thay đổi, định xét lại, thì rồi cái gì, việc gì mà họ/ chúng ta không dám làm! Chả mấy chốc nữa không biết sẽ ra sao?
 
Thứ ba, Vấn đề sính ngoại, mất gốc ở một bộ phận Tăng Ni Phật tử ở nước ta là đáng báo động. Có thể do tâm lý, có thể do thiếu thông tin, nhiễu thông tin, và cũng có thể là do thiếu sự chỉ đạo, thống nhất quan điểm từ trong tổ chức GHPGVN.
 
Trong bao nhiêu năm qua, cái gì ở nước ngoài thâm nhập vào nước ta cũng được Tăng Ni Phật tử nước ta hồ hởi đón nhận, và dường như cái gì cũng hồ hởi thái quá. Không biết có phải ở cái cảnh “người được rồi người lại cười” hay không?
 
May mà PGVN hiện còn có Đức Pháp chủ, chư Tôn Trưởng Lão, các nhà lãnh đạo tịch mặc, vẳng lặng, bình tĩnh, quyền biến nên cơ sự chưa đến nông nỗi.
 
Đúng là có tình trạng rất nhiều chùa, tự viện thờ Phật và treo tôn ảnh kính ngưỡng Đức Đạt lai Lạt ma, đức Pháp vương Butan, các bậc Nhiếp chính vương theo truyền thống Tây tạng, Pháp sư Tịnh Không, v,v. có điều đó là do khi các đoàn đến thì đều mang theo ảnh để tuyên truyền rộng rãi. Và Tông phái, giáo phái nào cũng có cách quảng bá hình ảnh của vị thủ lĩnh tinh thần.
 
Duy chỉ có GHPGVN hiện nay là hầu như không!
 
Thử hỏi, trong số hơn 50.000 Tăng Ni VN hôm nay, có bao nhiêu phần trăm các vị biết đến danh tính, đạo hạnh, hình ảnh của Đức Pháp chủ đương kim? – thế thì việc treo ảnh thờ một vị Lama “hảo tướng”, hay một vị vô thượng sư “sành điệu” nào đó ở nhiều chùa là điều dễ hiểu.
 
Thứ tư, rồi tình hình, nhiều Thầy, trong đó có nhiều vị đi du học về, chỉ sinh hoạt lấy lệ với GH, còn bao nhiêu tâm sức xây dựng cơ ngơi riêng cho mình, làm các việc mới lạ, xây những chùa tháp trái lối, trang trí nội thất, bày biện đàn tràng khác lạ, đánh vào tâm hiếu kỳ để thu hút quần chúng, lập đạo tràng riêng, dưới danh nghĩa hoằng pháp lợi sinh. – Thực chất là ích kỷ, lợi dưỡng, là các “phú Tăng”, phá hoại Phật pháp, hủy báng Tăng già, làm ảnh hưởng đến uy tín, thể diện gây khó dễ cho GHPGVN.
 
Với họ, gọi là hoằng pháp, nhưng khẩu giáo, thân giáo, ý giáo lại xa lạ với tinh thần của Phật Pháp Tăng. Có chăng là tuyên thuyết xây dựng hình ảnh cho bản thân mình, cùng lắm là thầy mình, bưng bít các thông tin về GH, về các bậc chân tu đạo hạnh. Nếu có ai hỏi đến thì lờ tảng đi.
 
Thứ năm, Đúng là trải qua gần 30 năm xây dựng và trưởng thành, nhưng nền tảng của GHPGVN ngày nay còn rất chông chênh, và còn rất nhiều việc cấp bách cần phải làm nếu muốn sự tồn tại là lâu dài.
 
Và hiển nhiên là lý do và chỗ dựa lớn cho sự tồn tại của GH ngày nay là sự hậu thuẫn, ủng hộ của chính thể. Đó quả thật là một sự yên tâm nào đó nhưng cũng thật là nguy hiểm. Do vậy, để tồn tại và trưởng thành, GHPGVN không thể không sáng láng và chủ động kiện toàn nội lực của chính mình – tứ chúng đồng tu, đồng trưởng.
 
Trong thời đại thế giới hòa nhập, sự giao thoa, trao đổi, ảnh hưởng trong ngoài, thay đổi, cải các là điều tất yếu. Tuy nhiên điều đó sẽ là vô nghĩa, thậm chí mọi sự tan nát, nếu như không kiên cố giữ gìn và làm sáng các giá trị cố hữu, bản chất, chân chất của Phật giáo nước nhà, vốn đã được thử thách hàng ngàn năm, trong đó có “Nam mô A Di Đà Phật”.

 

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (59 bài gửi)

Diệu Âm 31/05/2015 17:54:30
Bài Giải Thích Vô Cùng Hay
Ví dụ: Singapore, phải giữ nguyên, không nên dịch là Tân Gia Ba. San Francisco, phải giữ nguyên, không nên dịch là Cựu Kim Sơn. Kondanna, phải giữ nguyên, không nên dịch là Kiều Trần Như. Maitreya, phải giữnguyên, không nên dịch là Di Lặc.

Amita - phải giữ nguyên, không nên dịch là A Di Đà.

Trong cuốn "Đường Xưa Mây Trắng" rất tôn trọng điều này. Sở dĩ có việc dịch này là do làm theo Tàu. Tàu không có mẫu tự La tinh, Việt Nam có mẫu tự La tinh, cớ chi phải theo Tàu?

Vì người đầu tiên khi phiên dịch đã không tôn trọng các điều trên nên đã phiên dịch Amita thành A Di Đà, cho nên kéo theo những phiền toái đến hôm nay.

Lỡ đã xảy ra rồi, bây giờ phải làm sao?

Bây giờ phải từ từ điều chỉnh lại.

Amita mà dịch thành A Di Đà là đi quá xa rồi, cho nên các bạn đồng tu không chịu, điều chỉnh lại cho gần gần một chút là A Mi Đà. Ý kiến này rất hay, rất đáng nên tôn trọng.

Chữ thứ nhất là A, người Việt đọc là A

Chữ thứ nhì là Mi, người Việt đọc là Mi, như đọc tiếng Việt, đâu cần phải dịch ra chữ Di cho lắm chuyện.

Sai là gốc ở chỗ này. Đây là do sai lầm của người dịch, không phải lỗi lầm của chúng ta mà tranh cãi ồn ào.

Chữ thứ ba là TA - Người Việt đọc là TA, như đọc tiếng Việt, nhưng vì âm sắc của tiếng Việt có dấu, hỏi huyền ngã nặng sắc không, cho nên trên chữ TA thêm một dấu huyền thành TÀ. Chữ TÀ này lại biến âm thành ĐÀ, kể cũng tạm ổn, có thể chấp nhận được. Vì nhiều khi ngôn ngữ nước ngoài cũng lắm chỗ chữ "T" biến âm thành "D". Ví dụ:

Water đọc là wader

Letter đọc là Letder

Cho nên chúng ta không nên khắt khe quá giữa TÀ và ĐÀ. Chỉ đổi cho đúng chữ Di thành chữ Mi mà đã làm ồn lên như thế, đòi đổi thêm một chữ nữa là khó. Do đó các bạn đồng tu đều chọ là A MI ĐÀ. Đây là bước tiến tốt đẹp để điểu chỉnh chỗ dịch sai lầm của người xưa vậy.

Vì thế, xin đề nghị rằng, từ nay chúng ta đều thống nhất là A MI ĐÀ, bởi nếu không làm như thế thì dây dưa tranh cãi hoài, và bắt đầu là trong kinh sách đều lưu ý điều chỉnh chữ A Di Đà thành A Mi Đà. Đối với người tu thiền, vì không niệm thánh hiệu A Mi Đà nên họ không lưu tâm việc này. Đối với người tu Tịnh Độ, vì thường trì danh nên việc điều chỉnh rất nên coi trọng.

Như các bạn thấy, Kondanna mà dịch là Kiều Trần Như, không ai nói gì vì chưa ai niệm danh hiệu Kiều Trần Như bao giờ. Vì Kiều Trần Như chưa thành Phật, chưa có quốc độ, chưa có bổn nguyện tiếp dẫn chúng sanh. Nếu Kiều Trần Như mà có sức mạnh như A Mi Đà thì chắc phải có nhiều ý kiến giữ nguyên danh hiệu Kondanna của Ngài.

Nếu bạn hướng dẫn cho một số người Mỹ tu pháp môn niệm Phật thì danh hiệu phải niệm như thế nào cho đúng? Phải là Amitabh. Vì sao? Amitabha là ngôn ngữ quốc tế mà các nước trên thế giới đều niệm. Từ India qua Srilanka, China, Korea, Taiwan, Indonesia, Malaysia, Australia, United States, Canada, England, Sweden v.v... Các Phật tử trên thế giới đều niệm là Amitabha, viết gọn là Amita.

Khi người Phật tử Việt Nam vào làm lễ chung với các Phật tử trên thế giới trong những buổi lễ có tính cách quốc tế, lúc đó mọi người trong đạo tràng quốc tế này đều niệm Amita. Người Phật tử Việt Nam phải hòa nhập âm điệu của mình, phải niệm Amita như họ, nhưng người Việt Nam đọc thành A Mi Đà, nghe dễ đọc hơn. Lúc đó không nên đọc là A Di Đà, vì sợ chỏi âm với đại chúng.

A Di Đà là thổ âm, là ngôn ngữ địa phương, chỉ có người Việt Nam dùng trong nước. Ra nước ngoài là phải đọc theo dân bản địa của nước đó, tức là tùy thuận âm giọng của chúng sanh tại mỗi quốc gia, mà các quốc gia này đều niệm là Amita. Đi hoằng pháp là phải tùy thuận chúng sanh, không thể bắt người nước đó đọc theo A Di Đà của người Việt được.

Tôi có người bạn miền Tây Nam Bộ, đậu tú tài II năm 1970, trong thư gởi về gia đình, anh nhắc người bịnh không nên ăn "thịch dịch". Tôi lấy làm lạ, một người đậu tú tài II, lại đang theo học năm thứ nhất đại học mà viết sai như thế vì đâu? Đây là vì kẹt ở thổ âm thổ ngữ vậy.

Cái gì có tính cách địa phương thì không hòa đồng với đa số. Thịch dịch là thổ ngữ của miền Tây Nam bộ, thịt vịt là ngôn ngữ Việt Nam.

A Di Đà là thổ ngữ của người Việt Nam, A Mi Đà là ngôn ngữ quốc tế - Việt Nam phải hòa nhập vào cộng đồng quốc tế, đâu thể bắt cộng đồng quốc tế hòa nhập vào Việt Nam?

Ngày nay vì việc thông tin rộng lớn trên thế giới, chữ A Mi Đà đã dần dần thay thế chữ A Di Đà. Đó là điều không thể chối cãi. Chúng ta không nên đi ngược lại dòng chảy này. Mọi việc đều phải thuận theo lòng người. Tại sao trước 1975 không đặt ra câu hỏi niệm A Di Đà hay A Mi Đà? Rõ ràng đây là vì truyền thông quốc tế vậy.

Amita là tiếng Sanskrit, là ngôn ngữ cõi trời sắc giới Brahma, đây là ngôn ngữ vũ trụ - cosmic language, không phải chỉ ở trên trái đất này mà các tinh cầu khác đều dùng. Người Phật tử Việt Nam không thể hòa mình vào ngôn ngữ vũ trụ được sao?

Cái gì có tướng đều là hư vọng. Đã hư vọng rồi thì đâu nên chấp chặt A Di Đà mà không uyển chuyển thành A Mi Đà? Đâu nên chấp chặt thịch dịch mà không uyển chuyển thành thịt vịt?

Như bạn có pháp danh là Hảo Ân, tôi gọi tên bạn là Háu Ăn, bạn có chịu không? Đây không phải ở nơi âm thanh cầu ngã, không có đạo lý gì trong đây hết, chỉ cần đọc cho đúng, nếu không đọc đúng thành ra hồ đồ. Nếu bạn là người không còn chấp trước âm thanh sắc tướng thì khi đọc lại cho đúng, tại sao bạn không chịu?

Đổi A Di Đà thành A Mi Đà là tùy thuận với các chúng sanh ở vô lượng các tinh cầu khác trong vũ trụ, trong đó có cõi nước của Phật A Mi Đà. Tại sao bạn không đọc đúng tên cõi nước mình sắp về?

Trong quá trình dụng tâm niệm Phật, rất nhiều bạn đồng tu cho biết rằng, niệm A Mi Đà dễ niệm hơn, dễ được nhứt tâm hơn. Có người niệm A Di Đà bị đau quai hàm, đổi qua niệm A Mi Đà thì hết bịnh. Đây là do chữ A Di Đà cứng âm hơn, A Mi Đà nhẹ âm hơn.

Trong việc hoằng pháp và hộ pháp, chỗ nào có lỗi liền sửa để được hoàn chỉnh.

Hỏi: Có bà già niệm Án Ma Ni Bát Di Khuya được nhứt tâm, do ở lòng thành, đâu cần đọc đúng?

Đáp: Hãy để bà già qua một bên. Riêng bạn, bạn đọc là Án Ma Ni Bát Di Khuya hay Um Mani Padme Hum?

Phật dạy, y pháp bất y nhân.

Y pháp là Um Mani Padme Hum. Y nhân là theo bà già đó, Án Ma Ni Bát Di Khuya. Chúng ta y theo pháp, không theo bà già đó.

Đọc A Mi Đà là y theo pháp.

Đọc A Di Đà là đọc theo người Việt Nam. Chúng ta y theo pháp, không theo lối đọc sai của người Việt.

Các vị Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh gần kề trăm tuổi, đã dạy bảo đồ chúng tăng ni Phật tử niệm đúng thánh hiệu A Mi Đà. Chúng ta là hàng đệ tử, rất nên y giáo phụng hành. Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy phải nên "phụng sự sư trưởng" tức rất nên vâng lời của các vị Hòa Thượng trên, các Ngài đã chuyên tu chuyên niệm A Mi Đà, nói ra những kinh nghiệm bản thân.

Ngạn ngữ có câu: "Không nghe người già nói, thiệt thòi ngay trước mắt".

Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh là người đầu đàn trong giáo hội, khuyên dạy mà không chịu nghe, thật đúng như Bồ Tát Địa Tạng nói "chúng sanh cõi này cang cười khó giáo hóa".

Việc niệm A Di Đà hay A Mi Đà phải cần có các trọng tài đứng ra dàn xếp. Như việc phân chia xá lợi của đức Thế Tôn phải có một trọng tài là Dona đứng ra dàn xếp.

Chúng ta may mắn có được trọng tài Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, đã viên tịch. Nay còn Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh đứng ra làm trọng tài dàn xếp, hướng dẫn hợp lý hợp tình cho tăng ni tín đồ Phật tử đồng niệm đúng danh hiệu A Mi Đà Phật. Chúng ta rất nên dẹp bớt cái ngã của mình, tôn trọng thành kính và biết ơn vị trọng tài này đã tốn hao sức lực chỉ vì muốn ổn định tín đồ, hòa hợp Tăng già.

Không biết có chùa nào tác pháp yết ma, niệm A Mi Đà Phật chưa?

Không nên lơ là tiêu cực nói rằng A Di Đà cũng được, A Mi Đà cũng được, như thế sẽ lộn xộn mãi về sau. Chúng ta phải làm cho tích cực, thay đổi hẳn A Di Đà thành A Mi Đà để cho ánh Vô Lượng Quang được toàn vẹn chiếu thẳng đến quê hương Việt Nam. Làm được như thế, công đức của bạn thật là vô lượng. Vô lượng = A Mi Đà.

Nam mô Công Đức Lâm Bồ Tát
vtt 05/05/2013 06:31:59
Về việc HT Thích Trí Tịnh gọi danh hiệu "A Di Đà Phật" hay "A Mi Đà Phật" thì trong video này có:
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=eiM8i_YHe5A
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=S_kXRQ-G8NM
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=d4ReRBkcq2M
Thientinh 23/03/2013 20:13:03
Sự Nhất Tâm Bất Loạn: niệm Phật cho đến khi
đã phục trừ mọi phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến... cho đến ngày diệt được hết hẳn cả kiến hoặc và tư
hoặc, nghĩa là không bị kiến tư hoặc làm loạn. Đây là Sự
Nhất Tâm Bất Loạn. Ngôi vị này ngang hàng A La Hán
của Thanh Văn và đắc định của Thiền Tông.
Lý Nhất Tâm Bất Loạn: niệm Phật cho đến khi
nào tâm mình mở ra, mình thấy được Phật của tâm tánh
mình, thấy được chƣ Phật ở mười phƣơng. Chứng được
pháp môn Bất Nhị nghĩa là không bị tà thuyết nhị biên
làm loạn. Đây là Lý Nhất Tâm Bất Loạn. Ngôi vị này
ngang hàng thiền tông là minh tâm kiến tánh, đại triệt đại
ngộ, là Đại Bồ Tát. Hòa thượng Trí Tịnh còn nói: “Người
ấy còn ở Ta Bà cũng là vị Đại Bồ Tát”.
Trong suốt tiến trình từ khi bắt đầu thực tập đến khi
đạt được bước thứ nhất (Bất Niệm Tự Niệm), dần dần đến Sự, Lý Nhất Tâm Bất Loạn cũng chỉ cần niệm một câu Phật
hiệu duy nhất thôi. Đúng như kinh Lăng Nghiêm đã dạy:
“Không cần phương tiện gì khác, tự được khai tâm”. Như
chư Tổ dạy: “Một câu A Di Đà Phật thành Phật còn có
dư”.

Sự chướng, Lý cũng chướng ! Phật Pháp hay Pháp Phật là 1 hay là 2 ? Không 2 cũng không 1, Nhất Tâm Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, tha thiết hành trì, tín sâu Phật Vô Lượng Thọ là có thật và mình sẽ được Phật tiếp dẫn, nguyện thành khẩn tha thiết để mong sớm về TỊnh Độ thì như thế Niệm thế nào mới được ? Nếu người đã Nhất Tâm câu A Di Đà Phật thì ép người phải niệm A Mi Đà Phật được không ? Chúng ta phải tuỳ duyên niệm Phật câu nào từ nào đã thấm nhuần trong Tàng Thức rồi thì khó mà nhổ bỏ, cũng không nên ép buộc phải sửa đổi. Trong các video Vãng sanh mà tôi đã xem thì toàn A Di Đà Phật cũng Vãng sanh về với Phật Vô Lượng Thọ đấy thôi. Khi chúng ta sữa thì có hành trì miên mật hay ko ? Có muốn sanh về Tịnh mà nhàm chán Ta bà thống khổ này không ? Càng nói càng chướng nhiều nên " Nhìn thấu, Buông xả, Tự tại, Tuỳ duyên, Niệm Phật." Chúng ta Niệm Phật chứ không phải niệm Di hay là Mi, Phật mới là cái cốt lõi trong Tâm ta luôn có Phật luôn niệm Phật thì Di hay Mi thì Phật cũng biết mỗi chúng ta có niệm hay không niệm. Nói nhiều chỉ làm tăng thêm sự chướng ngại, kính mong các Thiện tri thức thứ lỗi cho con đã nói thế. Con xin thành tâm sám hối sau viec này ! A Di Đà Phật.
Đạo Quang 05/09/2012 09:24:59
Tiếng Phạn là: अमिताभ Amitābha, Amitāyus, người Trung Hoa phiên âm là: 阿彌陀佛, người Việt phát âm theo văn Trung Hoa trại ra thành âm Hán-Việt là: A Di Đà Phật. Ký âm ấy là để chỉ cho Phật tánh mà ai cũng có, nhưng Phật tánh thì không thể dùng ngữ ngôn để luận bàn, không thể dùng âm thanh sắc tướng để thể nhập; mà phải niệm tự tánh Di Đà của mình, tức đưa tâm về vô niệm, nên trong kinh A Di Đà đức Phật Thích Ca nói: “Pháp khó tin”. Còn niệm danh tự: A Di Đà Phật, A Mi Đà Phật, A Mi Ta Bha, A Mi Phò phò.v.v… là để gạt đa niệm về nhất niệm mà thôi. Vì vậy niệm danh tự nào cũng được, miễn sao cho ý dừng lại nơi danh hiệu để an lập ý. Phương pháp này là pháp an lập ý của Nhị thừa, chứ không thể vượt qua vọng tâm sanh diệt (không thể vãng sanh).
Tran Quang 06/07/2012 08:58:43
Theo thiển ý của tôi niệm A di đà Phật, a mi đà Phật, mô Phật…đều được cả, cái chính là có dốc tâm hay không
Cũng như Nam mô Bản sư Thích ca mâu ni hay Nam mô Bốn sư thôi, âm L hay R thôi.
Vẫn biết các Phật tử ngày nay đến chùa không tự tìm chính mình và đi cầu đảo đủ thứ nhưng vẫn còn hơn là không đến, chỉ là Phương tiện cho họ bớt làm ác, trồng căn lành, lạy Phật, niệm Phật vì : người tâm điên đảo đến Chùa chỉ xưng 1 câu nam mô Phật cũng đều thành Phật đạo, họ là Phật vị lai đấy.
Cần nhận rõ phương tiện và cứu cánh, bồ tát Vô danh, hữu danh chỉ nhằm mục đích phương tiện cũng như Đạo là Vô ngôn, Vô tự (chẳng thế mà Chân Kinh là sách Không chữ trong Tây Du Ký)
Không nên đưa Trưởng Lão Pháp chủ ra so sánh, cần Danh Ngài đã về Quán sứ,… cái Pháp chủ cầu là Vô sở cầu, vô sở đắc, hiện nay Ngài mang danh Pháp Chủ tức là còn có chỗ đắc cũng là phương tiện thôi, nên biết các Ngài nhiếp tâm Vô vi cũng rất có lợi cho pháp giới chúng sinh đầy diên đảo và công đức vô lượng đấy.
Nên dành thời gian soi chính Tâm mình, không nên phí thời gian thế này thế kia, đâu vào đấy cả thôi, Tâm an thì Đông, tây, nam bắc đều an.
Người người có Đạo thì không hay khoe
Người người có Nghĩa thì không hay Tham
Người người có đức thì không Thích tiếng tăm lừng lẫy (chỉ là Phương tiện)
Mô Phật!
lqt 05/10/2011 15:08:33
Các phật tử trong các BHN đang làm những việc của các vị Bồ Tát, không kể ngày đêm xả thân vì lợi ích của chúng sinh bố thí pháp, Vô úy thí niệm Phật với lòng từ bi cho bao người vào những giờ phủt tối quan trọng của đời người - trước giờ phút lâm chung. Chúng tôi mong rằng các BHN ngày càng phát triển và hoàn thiện trên khắp mọi miền: từ miền xuôi đến miền ngược để đem ánh sáng Phật pháp đến với tất cả những con người đang muốn "ôm chân Phật" thoát khỏi ba cõi, sáu đường hoặc những người đang sống trong lầm lỗi.
Nam Mô A Di Đà Phật.
03/10/2011 10:48:41
Cần thống nhất quan điểm chung. Tình trạng loạn dùng từ sẽ khiến người phật tử sơ cơ mất niềm tin, mất định hướng vào phật pháp, nhất là pháp nôn niệm Phật. Không phải cố chấp vào danh từ, hình thức. Nhưng cần phải có hình thức nhất quán để ổn định nội tâm. Đa số phật tử tu theo pháp môn niệm danh hiệu phật A-Di-Đà. Đừng để phật tử mất niềm tin vào hệ thống giáo điển hiện có, ai muốn sửa sao thì sửa tùy theo ý mình nhằm mục đích lôi kéo tín đồ, tiếng tăm của mình.
Phương tiện thì cũng phải chuẩn mực, khéo léo. Không thể cứ ỷ là niệm tâm, rồi người này nói thế này, người kia nói thế kia.

Kẻo đến lúc lại có vị sáng tạo niệm A Men Đà Phật, rồi A Men
May 03/10/2011 09:06:27
Hỏi:
Niệm A DI ĐÀ PHẬT hay A MI ĐÀ PHẬT, rất cám ơn.

Phạm Hữu Nghị

Trả lời:

Niệm Phật, chính yếu là lòng thành, chớ chấp vào từ ngữ.


Phật không chấp nên vô ngại. Còn chúng sanh cứ chấp mãi nên bị chướng ngại! Từ chỗ cố chấp này mà sanh ra đủ thứ tranh luận! "Sự" mà còn chướng ngại như vậy, thì "Lý" còn bị rắc rối nhiều hơn nữa, biết đến bao giờ tâm mới thanh tịnh?!

Trước tiên, xin đưa ra vài việc điển hình:

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh dạy người niệm "Nam-mô Bụt A-Di-Đà", còn hàng trăm vị Hòa Thượng khác khuyên niệm "Nam-mô A-Di-Đà Phật". Sư Ông Nhất Hạnh không bao giờ chỉ trích người niệm "Nam-mô A-Di-Đà Phật", các vị Hòa Thượng khác cũng không có chỉ trích cách niệm "Nam-mô Bụt A-Di-Đà".

Đại lão HT Thích Trí Tịnh, và HT Thích Thiền Tâm có chủ trương niệm "Nam-mô A-Mi-Đà Phật", nhưng ai muốn niệm theo kiểu nào các Ngài cũng hoan hỉ, chưa bao giờ Đại Lão HT la rầy một Phật tử niệm "Nam-mô A-Di-Đà Phật". Trong khi đó, hàng trăm vị Hòa Thượng khác vẫn giữ nguyên câu Phật hiệu "Nam-mô A-Di-Đà Phật", và các Ngài cũng chưa bao giờ phê phán cách niệm "Nam-mô A-Mi-Đà Phật" của HT Thích Trí Tịnh.

Tại sao vậy? Vì, phải chăng, các vị đã thấu được lý "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng" (tạm dịch, cái gì có hình tướng đều là giả tạm). Còn phàm phu chúng ta thì cố chấp từng chút. Ai cũng cho mình là đúng, người khác sai, nên gây ra không biết bao nhiêu sự thị phi, tranh cãi...

Càng tranh cãi càng sai. Vừa phí uổng thời giờ, vừa tán loạn cái tâm!

Nhưng thực tế thì sao? Xin thưa rằng, đã là Phật thì đâu còn danh tánh, hình tướng... gì nữa. Vì chúng sanh cần phải có những thứ đó để nương dựa nên quý Ngài mới thị hiện ra danh tánh, hình tướng... cho chúng sanh có chỗ quy y. Như vậy, vì chúng sanh mà chư Phật có tên, có hình tướng, đó chỉ là phương tiện để độ chúng sanh mê muội như chúng ta mà thôi. Trong kinh Phật gọi là, "Tùy chúng sanh tâm, ưng sở tri lượng" (Tùy theo chúng sanh muốn gì, các Ngài thị hiện ra để độ).

Trong kinh nói, Bồ-tát đã phá tứ tướng, nghĩa là không còn tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng-sanh, tướng Thọ-giả nữa. Không những thế, Bồ-Tát còn phá đến tứ kiến, cao hơn tứ tướng, nghĩa là cái nghĩ tưởng về bốn tướng cũng không còn nữa. Nếu không được vậy thì chưa phải là Bồ-tát. Bồ tát mà còn vậy rồi, huống chi, khi chứng đắc đến quả vị Phật, là quả vị giác ngộ hoàn toàn rồi. Vậy thì, thực tế, suy cho cùng lý, Phật làm gì còn có tên? Có tên tức là còn có tướng Ngã, tướng Ngã, tướng Chúng sanh, tướng Thọ giả, có đủ tứ tướng sao?

Niệm một danh hiệu Phật là niệm ngay cái tánh đức của chính mình. Nhưng vì chúng sanh không biết cái tánh đức của mình là gì, cho nên niệm danh hiệu một vị Phật cho tánh đức hiển lộ.

Như vậy, niệm Phật chính là niệm tâm. Niệm tâm thì tâm phải niệm tâm, chứ không phải miệng xưng danh hiệu. Miệng xưng danh hiệu chỉ là phương tiện giúp cái cho cái tâm nó niệm. Nói cho dễ hiểu là người niệm Phật cần phải thành tâm, chí thiết. Khi tâm nhiếp lại, nghĩ, tưởng, quán đến vị Hóa-chủ Tây-phương Cực-lạc, thì niệm "A-Di-Đà Phât" hay "A-Mi-Đà Phât", danh xưng nào lại không phải là vị Hóa chủ Tây phương cực lạc?

Niệm Phật là Tâm niệm Phật chứ không phải là cái miệng xưng danh hiệu. Hãy nghĩ thử, nếu mục đích là cái danh hiệu, thì người Tàu niệm tiếng Tàu, người Thái niệm tiếng Thái, người Việt niệm tiếng Việt, mỗi dân tộc niệm một ngôn ngữ riêng, âm thanh hoàn toàn khác lạ, chẳng lẽ mình thì đúng còn họ thì sai sao? Chẳng lẽ họ cũng tu pháp đó mà đành phải lạc đến chỗ khác sao? Chẳng lẽ pháp tu niệm Phật chỉ dành cho một dân tộc đặc biệt nào đó trên quả địa cầu này sao? Nên nhớ, đại thệ của A-Di-Đà Phật cứu đến muời phương pháp giới chúng sanh chứ không phải chỉ riêng quả địa cầu này đâu. (Quả địa cầu trong kinh gọi là Nam-diêm-phù-đề, thật quá nhỏ so với pháp giới!).

Mục đích là thành Phật. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật dạy, muốn thành Phật chúng sanh hãy mau tìm đường vãng sanh Cực lạc quốc. Như vậy, pháp niệm Phật là một phương tiện cho chúng sanh nghe đến để biết đường đi về tới Tây phương tịnh độ. Trong kinh Vô Lượng Thọ có câu "Văn danh, đắc độ". Nghe danh hiệu A-Di-Đà Phật, gọi là "Văn danh". Được vãng sanh về Tịnh độ, gọi là "Đắc độ". Hay gọi là, "Tùy văn nhập quán". Nghe danh hiệu Phật, gọi là "Tùy văn"; nhờ đó mà biết rõ đường vãng sanh Cực-lạc quốc, tức là "Nhập quán".

Như vậy, chúng ta niệm Phật cách nào mà biết rõ đường về Tây-phương cực lạc là niệm đúng. Nếu người đã quen và nhiếp tâm vào "A-Di-Đà Phật" thì hãy tiếp tục niệm "A-Di-Đà Phật". Nếu người nào nghe đến "A-Mi-Đà Phật" mà cảm ứng hãy niệm "A-Mi-Đà Phật". Xin chớ chấp trước.

Chấp trước là sai! Hay nói rõ hơn, cố chấp vào ý muốn của mình thì nhất định bị lạc vào Tà kiến!

Phật có lời dạy rằng, "Dĩ âm thanh cầu Ngã, dĩ sắc tướng cầu Ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như-Lai". (Tạm dịch, người mà chấp vào hình tướng mà cầu Ta, chấp vào âm thanh mà cầu Ta, người đó đang tu theo tà đạo, không thể thấy được Như Lai). Câu kinh này ứng dụng tại đây rất hay.

"Dĩ sắc tướng cầu Ngã" tức là cố chấp vào hình tướng mà tu hành. Nói rõ hơn, thấy ta có tu, người khác không tu; ta tu giỏi, người khác tu dở; ta là tốt, người khác xấu; ta là nhất không ai bằng, cống cao ngã mạn, cạnh tranh ganh tỵ... thì đây là điều không tốt.

"Dĩ âm thanh cầu Ngã" chính là sự cố chấp vào ngôn ngữ. Ví dụ, người chấp vào danh hiệu "A-Di-Đà Phật" mà chê bai người niệm "A-Mi-Đà Phật". Hay ngược lại, người chỉ thích niệm "A-Mi-Đà Phật" mà tìm cách chống báng người niệm "A-Di-Đà Phật". Thì những người này bị vướng đến cái nạn "Dĩ âm thanh cầu Ngã". Người tu hành chân chánh phải tránh.

Nhắc lại, niệm Phật là tâm niệm chứ không phải là miệng niệm. Cái miệng niệm Phật chẳng qua là phương tiện nhắc nhở cái tâm quay về với chơn Tâm Tự Tánh, quay về với Phật Tánh của chính mình. Một người, khi niệm Phật đến chỗ "Vô Niệm", thì xin hỏi rằng, còn đâu là "Di" còn đâu là "Mi" nữa?

Ngài Trung Phong quốc sư có nói, "Niệm đáo tâm không Phật diệt vong", (Tạm dịch, niệm Phật đến cảnh tâm vắng lặng như chơn không, thì Phật cũng không còn nữa). Đây chính là Niệm Phật đến chỗ "Vô Niệm", lúc đó mới quán chiếu rõ ràng, Phật chính là Tâm, Tâm chính là Phật, ngoài Tâm không Phật, ngoài Phật không Tâm, thì còn gì để phân biệt? Phật đâu còn ở đây, ở kia? Phật đâu còn ở trong, ở ngoài? Phật đâu còn có tên tuổi gì nữa (mà chấp)?

Thế thì, chúng ta không nên cố chấp vào từ ngữ, âm giọng của thế gian làm chi cho tâm hồn rối bời. Tâm rối bời thì khó được thanh tịnh giải thoát vậy!

Tùy duyên thì vô sự, an nhiên. Phan duyên thì lộn xộn, rắc rối!

Ví dụ, người thường nhiếp tâm niệm A-Di-Đà Phật, hãy để họ cứ tiếp tục niệm A-Di-Đà Phật (Tùy duyên), họ sẽ dễ được cảm ứng. Biết bao nhiêu người niệm A-Di-Đà Phật đã được vãng sanh, không nên khuyên họ thay đổi. Ngàn kinh vạn điển, vô số tượng hình, hàng triệu người VN... đều xác định danh hiệu A-Di-Đà Phật, thì chúng ta hãy an lòng mà niệm A-Di-Đà Phật.

Nếu ta cố tình thay đổi cách niệm của họ (Phan duyên), làm cho họ mất sức nhiếp tâm, rất khó được cảm ứng. Nhất là lúc lâm chung.

Ví dụ khác, như người thường niệm "A-Di-Đà Phật", đến lúc lâm chung, nếu người hộ niệm đến niệm "A-Mi-Đà Phật". Nghĩa là, niệm khác cách niệm thường ngày của của người bệnh, sẽ làm họ bị xáo trộn, không nhiếp tâm, có thể gây nên phiền não rất lớn, chính vì vậy mà dễ mất phần vãng sanh! Nhân quả này người hộ niệm phải chịu.

Người tu hành, làm một việc gì cũng cần nghĩ đến quả báo.

Một ví dụ nữa, một người bệnh muốn niệm "A-Mi-đà Phật", khi lâm chung lại mời BHN thường ngày niệm "A-Di-đà Phật" đến hộ niệm, thì cũng dễ sanh ra vấn đề...

Nếu niệm theo người hộ niệm thì người bệnh bị phiền não, đã phiền não thì khó vãng sanh.

Nếu BHN vì muốn thuận theo người bệnh mà phải đổi cách niệm thường ngày của mình. Nghĩa là thay vì niệm "A-Di-đà Phật", họ phải niệm "A-Mi-đà Phật", làm cho chính những người hộ niệm rất khó nhiếp tâm. Không nhiếp tâm được thì cũng dễ sanh phiền não. Niệm Phật mà bị phiền não thì công đức hộ niệm sẽ bị suy giảm rất nhiều, rất khó được tương ưng.

Xin nhắc lại rõ ràng điều này, chúng ta đều là phàm phu, nên rất cần sự thuận duyên hỗ trợ. Mỗi một sự thay đổi đều có thể gây sự xáo trộn. Nếu bị xáo trộn ngay lúc lâm chung thì thật là bất hạnh lắm vậy!

Chính vì thế, để tránh sự xáo trộn này, chúng ta nên "Tùy hỉ công đức" và "Hằng thuận chúng sanh", là điều tốt đẹp. Nghĩa là, niệm cách nào cũng tốt cả, chúng ta cần tán thán người niệm Phật. Đó là "Tùy hỉ công đức". Đi đến một đạo tràng, họ niệm sao mình niệm vậy, đừng cố tình thay đổi hay phê phán cách niệm của họ, đó là "Hằng thuận chúng sanh".

Thấy người tu hành, niệm Phật cầu vãng sanh, ta nên tán thán, ủng hộ. Điểm chính yếu chính là TÍN-NGUYỆN-HẠNH, đây là điều "Bất biến", nên khuyến tấn, hỗ trợ. Còn hình thức thì có thể uyển chuyển, hay gọi "Tùy duyên". Mỗi người đều cảm ứng đến một phương pháp riêng. Hãy nương theo điều thuận lợi riêng của họ để giúp họ thăng tiến.

Đừng quá cố chấp vào danh tự, cố chấp vào hình thức rồi phân biệt, chê bai, đúng sai... thật tế, việc này không đem lại ích lợi gì cả! Ngược lại, còn gây thêm xáo trộn, tranh luận, chia rẽ, khiến lòng người ly tán, thối tâm tu hành, làm cho Phật pháp đang trong cơn mạt pháp lại càng bị mạt nhanh hơn!

Tuy nhiên, riêng cá nhân của mỗi người phải tự quyết định một hướng niệm. Đừng nên chao đảo. Cái gì thuận với mình, cảm ứng tốt với mình, thì đó là Chánh Pháp của mình vậy.

Ấn Tổ khuyến khích thành lập thành nhóm niệm Phật nhỏ đề cùng tu chung. Nhóm cộng tu nhỏ thì ít phiền não, bớt việc, dễ hội tụ những người đồng nguyện, đồng hạnh, đồng cách tụng niệm, không làm pháp sự, không làm Phật sự, không đi hóa duyên, giảm chế lễ lộc, ngày ngày cùng nhau niệm Phật là tốt nhất. Được vậy, sẽ dễ dàng hỗ trợ cho nhau, giúp nhau cùng tu, sự tiến tu đạo nghiệp sẽ giảm bớt chướng ngại. Khi hữu sự, cụ thể như có người lâm chung, sẽ cùng nhau hộ niệm tốt, mới giúp nhau một cách tích cực và hiệu quả vậy.

A-Di-Đà Phật.
Viên Minh 02/10/2011 13:03:45
Tôi rất đau lòng khi nghe những Phật tử kể nhau nghe về những ca vãng sanh. Vì sao có người vãng sanh mà tôi đau lòng? Theo tôi,vấn đề này "niềm tin thì có mà chân lý thì không", Chỉ có thể khẳng định rằng"phong trào, phong trào" mà thôi. Không khéo chúng ta đi bài trừ các nạn mê tín cũ nhưng lại vẽ ra một điều mê tín khác.Nếu vãng sanh dễ dàng quá thì đâu cần tu, chỉ cần được hộ niệm là tốt rồi. Thực tế có những nơi người ta còn bày ra cách lôi kéo Phật tử là "Vào thành viên của chùa" để khi vô thường đến họ đến lo từ A đến Z. Xin thưa! quý vị đã chứng đạo chưa mà biết người mất vãng sanh không? Nếu chưa thì đừng tuyên truyền bậy bạ. Đạo Phật là đạo trí tuệ chứ không phải là niềm tin mù quáng đó.
Dieu Am 01/10/2011 16:18:09
A DI ĐÀ PHẬT
Con nghĩ,niem Phật la giup cho tâm mình được thanh tịnh,để luôn nghĩ đên Đức Phật A DI ĐÀ,nghĩ đên nhưng đưc tanh tôt cua Phật,đó la thanh tịnh,bình đẳng,từ bi,chánh giác va theo đó để co thể hàng ngày hanh trì theo,để co thể có một ngày thanh tựu.Phật có ta, tâm ta co Phật thì cho du co niệm A DI hay A MI thi đâu co quan trong!con neu mồm ta co niệm niệm nhung tâm ta ko bỏ được tham,sân,si,ngã man,phiền não thi cũng vây thôi.Hãy tin vao chính tâm Phật cua minh nhe moi người.
congduc 30/09/2011 16:02:52
cứ hướng ngoại truy cầu, biết đến lúc nào mới được. nếu "a di đà Phật" là sai thì xưa nay chư vị tổ sư lớn, như Hòa thượng Thích Thiền tâm (đã mất), và các bằng chứng về việc niệm Phật vãng sanh ở nước ta, như sư bà Như Phụng ở Đồng Tháp, đã sai hết rồi. đâu biết rằng những vị ấy đều niệm "a di đà Phật". nếu muốn kiểm chứng thì đọc những câu chuyện vãng sanh lưu xá lợi sẽ biết. sao không tự trở về với chính mình, không lẽ Đài Loan mới có Phật còn nước ta không có Phật sao. sao không hiểu thể Phật vốn tròn đầy, trùm khắp hư không, phân thân tán thể, không bờ không mé, sao lại còn khởi niệm phân biệt Phật Đài Loan hay Phật Việt. sở dĩ muốn nói Phật Việt, chẳng qua là muốn giữ cái nét riêng, cái hồn thiêng sông núi nước ta, chứ suy cho cùng, Phật nào có khác chi, mà lại hướng ngoại truy cầu. xin hãy ngẫm lại và suy xét cho tường tận. thân chào.
Thị Ngã 29/09/2011 00:05:42
"NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT".Tôi cũng đồng quan điểm của đh Hoa Tạng và đh Nguyễn hồng Thu.Từ ngữ tiếng Việt chúng ta chưa thật đầy đủ." A di đà Phật"Là mượn từ âm Hán Việt,vậy thì chúng ta niệm cũng như người Trung Hoa,còn người Nhật thì họ niệm:"A di đà Như lai"Họ cũng dùng chữ"di". Ta thay đổi cách niệm"A mi đà Phật".Thì hai từ ở trước là âm tiếng Phạn hai từ sau là âm Hán Việt và nếu ta niệm"A mi đà Bụt"thì sẽ rối thêm.Vậy ta thay đổi làm gì.Là người theo đạo Phật,tôi hoan nghênh và cảm ơn những ý kiến đóng góp của các quí đạo hữu để cho nền Phật giáo chúng ta phát triển.Chúc quí đạo hữu thanh tâm an lạc.
Nguyên Hân 28/09/2011 16:02:40
Nam mô A Di Đà Phật!
Để xảy ra tình trạng nhiều BHN như hiện nay là do lỗi cả tu sĩ và cư sĩ!
phật tử tới chùa đa phần là do tâm mong cầu tiền tài danh lợi, người đến chùa cầu pháp hiện nay rất ít đa phần là do mê tín hay là do ngưỡng mộ 1 thầy nào đó mà đến chùa, nếu thầy đó làm gì trái ý thì không đi chùa nữa...
Đề nghị giáo hội phải có cách quản lý các chùa trong cà nước, bồi dưỡng trụ trì vì hiện nay chùa không nằm trong giáo hội rất nhiều (chùa tư nhân, gia đình trị) mấy anh enh cùng đi xuất gia ở chung 1 chùa tăng ni ở chung làm mất hình ảnh tăng đoàn.
Theo tôi cái gì hay thì mình phải nên học hỏi không nên cố chấp
Nam mô A Di Đà Phật! Nguyện Cầu cho chánh pháp mãi trưởng tồn
tamnhuthanhhuyen 28/09/2011 16:00:50
kinh thua chu tang ni cung quy dao huu gan xa quy vi cu di mot vong dat nuoc viet nam tu vung sau vung xa toi cac thanh pho lon hoi xem nam mo a di da phat la ai thi ai cung biet do la chi duc phat a di da con cac vi thu hoi a mi da phat thi moi nguoi se nghi ngay den vi phat nao do bat nguon tu niem a mi da phat la tu hoa thuong thich tri tinh ngai la nguoi co cong lon dich nhieu kinh sach tinh do cho phat tu tu hoc len co su anh huong rat lon nhung chi ngai niem ma khong co su sao tron thi khong co gi dang ban dang naythi nguoc lai vay giao hoi cung phai nen xem xet lai con phat tu ma tranh luan mai khong thoi thi bao gio dat nhat tam bat loan ma vang sanh day kinh mong quy vi nuong theo dai nguyen luc cua duc a di da ma vang sanh cuc lac
nam mo a di da phat
mam mo a di da phat
nam mo a di da phat
Giới Minh 28/09/2011 13:03:24
Sao lại không độ người xuất gia? Hiện tại sư nào cũng như thế thì 50 năm nữa còn đâu hình ảnh Tăng doàn?
Nhiệm vụ của tu sĩ : "các thầy hãy ra đi, truyền bá giáo pháp hoàn hảo ở đoạn đầu , hoàn hảo ở đoạn giữa, hoàn hảo ở đoạn cuối, hãy công bố đời sống phạm hạnh cao thượng" đó là giáo pháp Giới Định Tuệ và truyền pháp tiếp nhận người vào tăng đoàn qua việc truyền giới.
Nam Mô A Di Đà Phật
Q.T 27/09/2011 17:38:05
Bạn Nguyên Định bày tỏ bây chừ nghe mà mát cái tấm lòng,sao mà dịu dàng thế!
không khác gì Nguyễn Bính với vần thơ: "...Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng Anh ..."
Rất mong Quý vị hãy TU TÂM và sáu chữ vàng: "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT"
Bich 27/09/2011 09:07:44
http://tinhkhongphapngu.net/bai-giang/1-phuong-phap-tu-tri/73-ht-tnh-khong-q-toi-khong-co-mt-ngi-t-xut-gia-naoq.html

HT TỊNH KHÔNG: " TÔI KHÔNG CÓ MỘT NGƯỜI ĐỆ TỬ XUẤT GIA NÀO..."
Thứ hai, 28 Tháng 3 2011 09:35 Quản Trị
Email In PDF.
"...Tôi không có đạo tràng, sau khi tôi chết rồi không có bất cứ thứ gì, mọi người không có thứ gì để tranh đoạt, vậy thì tốt, không có cái lo về sau, nên được thanh tịnh, luôn phải như pháp, phải như lý, cái điểm này tôi được sự khải thị từ Thích Ca Mâu Ni Phật, được sự giáo huấn từ nơi lão pháp sư Ấn Quang.
Bạn thấy Ấn Tổ cả đời, không nhận đệ tử xuất gia, không truyền giới, không làm trụ trì, tôi từ phát tâm học Phật, tôi đã ngưỡng mộ pháp sư Ấn Quang, tôi muốn học tập với Ngài.
Hiện tại các vị đều biết, có không ít người nói xuất gia với tôi, đó là giả không phải là thật, họ xuất gia với ai vậy? họ xuất gia với Quán Trưởng, không phải xuất gia với tôi, mượn danh nghĩa của tôi để xuất gia mà thôi, cho nên chính tôi đích thực không hề nhận một người đệ tử xuất gia nào.
Cho nên tôi đối với những người xuất gia trong đạo tràng này, tôi đều rất là cung kính, tại sao vậy? chúng tôi là bạn cùng ở chung với nhau, không phải thầy trò, là bạn đồng tu, đôi bên rất cung kính lẫn nhau, quan hệ của chúng tôi phân định rất rõ ràng..."

(Trích từ lời giảng của HT Tịnh Không trong tập 61 của "Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác").
"...Vừa rồi có một vị đồng tu, rất là hiếm có, ông phát tâm mong cầu xuất gia, đến nhờ tôi thế phát cho ông.
Các vị đồng tu cần phải nên biết, năm xưa tôi học Phật, nhờ chỉ điểm của Đại sư Chương Gia, cả đời tôi ảnh hưởng bởi Đại sư Ấn Quang, Ấn Tổ cả đời tuân thủ ba điều giới luật:
Điều thứ nhất “không làm trụ trì, không tham gia chính trị”. Điều thứ hai “ không nhận đệ tử xuất gia, không thế phát cho người”. Điều thứ ba “ không truyền giới”, cả đời Ấn Tổ không truyền giới, tôi rất là ngưỡng vọng vị lão nhân này.
Cho nên tôi học Phật cũng là học tập với Ngài, tuân thủ ba điều giới này, cả đời chính mình không có đạo tràng, giảng kinh 41 năm, xuất gia sắp gần 50 năm, tôi không có đạo tràng, cũng không có đồ đệ, việc này các vị nhất định phải hiểu mà tha thứ cho..."

Trích từ “Báo cáo Thiện Tài Đồng Tử tham học”
Người giảng: Lão Hoà Thượng Tịnh Không.
Địa điểm:Hội Phúc Lợi Kim Sa Chủy Cửu Long Hong Kong
Thời gian: tháng 08 năm 2000.
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 28 Tháng 3 2011 10:34 )
Quảng Dương 26/09/2011 17:54:23
Nói hoài quanh đi quẩn lại cũng chỉ vì danh hiệu của Đức Phật Đi Đà? Người Việt Nam phải giữ cội gốc của người Việt? Tại sao lại cứ tha hoá những cái thứ không nên học? Từ trước tới nay là Nam Mô A Di Đà Phật. Vậy tại sao bây giờ A Mi Đà Phật. Đang niệm Nam Mô A Di Đà Phật bây giờ quay sang A Mi Đà Phật. Cũng khác gì tâm mình bị lay động trước những tham lam, ô uế? Nếu cục xuất cảnh ngăn cấm truyền đạo thì nhà nước lại bị quốc tế chỉ trích? Cái chính là do bản thân mình có đứng vững trước những vấn đề đó hay không mà thôi.
Nguyện Sinh Tịnh Độ 26/09/2011 16:59:00
Bạn đã có lòng tin vững chắc pháp môn niệm Phật thì trước đây bạn niệm thế nào thì bây giờ bạn niệm như thế đó. Nếu bạn nào có cách niệm cá biệt khi đến đạo tràng đông người nên niêm thầm đừng làm xáo trộn đại chúng. Tất cả đều do tâm tạo. Nam Mô A Di Đà Phật.
Huy Hồng 26/09/2011 16:34:16
Ai cũng nói : 2 cách niệm " A Di Đà Phật" hay "A Mi Đà Phật"cũng đều được cả, miễn là khi mình niệm, tâm không bị vọng tưởng.Vậy thì thử đặt câu hỏi, nếu nói như vậy thì đổi chữ Phật thành Bụt, hay Di thành Mi làm gì vậy? Thì chữ nào cũng giống nhau thôi. Sao không chữ nào để nguyên chữ đó, đổi làm gì cho giáo lý, kinh Phật thêm bị rối loạn, lòng người sân si.Tôi không biết đúng hay sai nhưng người mà làm cho phật tử rối loạn, mâu thuẫn lẫn nhau chắc cũng chẳng được công đức gì...tội càng thêm nặng
1 2 3 next tổng cộng: 59 | đang hiển thị: 1 - 20
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả
image Cư sĩ Huệ Minh - Lê Minh Nghĩa Thành viên Ban Biên tập, Phụ trách chuyên mục Văn hóa. Cư trú tại Cầu Giấy - Hà Nội. ĐT: 0989.329.597 Gmail:hueminhnghiavn@gmail.com