Nhìn vài ví dụ về Tin lành, nghĩ về PGVN
image

Theo phản hồi của một độc giả Phattuvietnam.net về Tin lành ở Hàn quốc, chủ nhật tuần vừa rồi tôi đã đến một nhà thờ Tin Lành ở gần nhà tôi để tìm hiểu.

Chỉ cần thấy một người mới, lạ lẫm xuất hiện trước nhà thờ là có người đến tiếp cận ngay. Hết sức vui vẻ và thân thiện,  họ hỏi ngay tôi cần gì, sẵn sàng hướng dẫn, giải thích và mời tôi tham dự lễ, để nghe mục sử thuyết giảng.

Tôi vỡ lẽ ra một điều  rằng, nếu so sánh đạo Tin Lành và pháp môn Tịnh Độ mà hiện nay đang phổ biến tại rất nhiều chùa tại VN, cùng là tin có một thiên đàng tương tự như cõi Cực lạc, nhưng cách hiện thực hóa niềm tin giữa tín đồ đạo Tin Lành và tín đồ của pháp môn niệm Phật  khác xa nhau một trời một vực.

Phật tử theo pháp môn Tịnh độ, suốt ngày niệm Phật (đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc nhà…) để cầu vãng sinh, nói theo kiểu Boris Pasternak,  tác giả của “Bác sĩ Zhivago”, thì tu theo kiểu này biến Phật tử thành “những con người sinh ra không phải để sống mà để chuẩn bị chết”,  trong  khi  đối với niềm tin của  những người theo đạo Tin Lành thì nếu họ tin Chúa, thờ Chúa thì việc lên thiên đàng sau khi chết là chuyện đương nhiên, khỏi cần phải lo. Do vậy,  cứ việc an vui mà sống và  đặt lòng tin vào Chúa thì đến khi chết, Chúa sẽ lo.

Để cũng  cố niềm tin của tín đồ vào Chúa, trong bài giảng, mục sư nhắc nhở đến việc phải tin Chúa và kính Chúa bằng cách nhấn mạnh  rằng Chúa quyền năng sẽ cứu giúp cho chúng ta, sẽ ban phước lành cho chúng ta, nhưng chúng ta phải tin Chúa, nếu chúng ta không tin Chúa, thì làm sao có thể nhận được ân sủng của ngài? 

Đại loại lời giảng mà tôi còn nhớ là Chúa khuyên chúng ta hãy kêu cầu ngài vì ngài sẽ nghe mọi lời nói của chúng ta. Ngài phán “Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa; sẽ mở cho. Bởi vì, hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở”.  Hễ xin gì Chúa cho nấy vì ngài phán rõ ràng rằng ngài sẽ trả lời… (rất giống hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm trong Phật giáo)

Tôi đã từng đọc cuốn thánh kinh của Tin Lành và rất kinh ngạc trước những trò trừng phạt tàn bạo của một Chúa trời đầy sân hận, nhưng khi thuyết giảng thì vị mục sư chẳng đề cập gì đến những việc làm tàn ác của Chúa trời mà đẩy  lòng nhân từ của ngài lên mức tối đa “Vì Ngài là nơi bền vững cho kẻ nghèo, đồn lũy cho kẻ thiếu thốn trong lúc khó khăn, chỗ đụt cho khỏi bão, chỗ bóng mát cho khỏi nắng, khi những kẻ cường bạo thổi hơi ra như bão, xông vào tường thành.” (ai nghe mà chẳng kính phục và tri ân Chúa!)

Ngoài việc rao giảng niềm tin về sự tin kính Chúa, họ cũng khuyến khích con chiên sống một cuộc sống tốt đẹp, hãy thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau. Bài giảng nhấn mạnh đến tình thương, “ở đây chỉ có sự yêu thương, yêu thương” và họ hiện thực hóa quyền năng của Chúa và sự rao giảng về yêu thương của họ bằng khuyến khích mọi người quan tâm, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, đặc biệt là đóng góp để giúp đỡ về mặt tài chánh cho những người nghèo khó trong chi hội.

Gần nhà tôi, có một gia đình của một người mù bán vé số theo đạo Phật nghèo xác nghèo xơ, nhưng khi cải qua đạo Tin Lành thì gia đình được giúp đỡ tài chánh, tư vấn để làm ăn và kinh tế khá dần lên, chỉ sau 8 năm, hai cô con gái của gia đình họ đều vào đại học và chở nhau đi học bằng xe scooter. 

Nếu nói rằng đạo nào cũng tốt (vì quý thầy cũng dạy cho các Phật tử như vậy),  và nếu là bạn, trong trường hợp bạn không nghèo, không vào một đạo nào đó chỉ nó giúp cho bạn giải quyết những bức bách về vấn đề  tài chánh, mà muốn chọn một tôn giáo vì tôn giáo đó có thể nâng đỡ tinh thần của bạn trong đời sống hàng ngày, thì bạn sẽ chọn đạo nào? 

Một đạo ăn xong cứ niệm Phật để lo chuẩn bị cho cái chết hay một đạo mà khuyên bạn sống một cuộc sống an nhiên trong tình yêu thương, cho bạn một động lực để sống một cuộc sống an vui với những hạnh phúc rất đời thường? Đạo nào thực tế hơn?

Phản hồi rút ra từ chuyến đi “thực địa” của tôi không nhằm mục đích đã phá một pháp môn nào. Tôi chỉ muốn vạch ra sự yếu kém của Phật giáo tại VN  trong mối tương quan với tôn giáo khác. Do pháp môn Tịnh Độ đang là một pháp môn thịnh hành ở VN, vì vậy phản hồi của tôi dường như xúc phạm đến những người theo pháp môn niệm Phật, nếu như vậy tôi mong các bạn lượng thứ.

Và cũng vì tương lai của Phật giáo VN, tôi mong rằng những bậc tôn túc, những người đang hoằng dương pháp môn niệm Phật nói riêng cũng như các pháp môn khác nói chung nên cải tiến, áp dụng  những phương thức hoằng dương thực tế hơn để làm sao có thể cạnh tranh với tôn giáo bạn, đặc biệt  khi pháp môn của mình cũng na ná như tôn giáo giáo bạn.

Rút  kinh nghiệm từ sự suy tàn của Phật giáo Nhật Bản, sự lấn lướt của Tin lành ở Hàn quốc, có lẽ đã đến lúc chúng ta phải thẳng thắn xem xét tính “khế cơ, khế lý” của một pháp môn nào đó, cũng như hình thức vận hành trong tình hình  bối cảnh  xã hội hiện đại ngày nay hay không?

Trong khi những bài giảng của các mục sư đề cao Chúa của họ một cách tối đa, mà Chúa là một vị thần (có thật hay không thật cũng chẳng ai biết), thì nếu chúng ta xem các đĩa VCD về các đạo tràng niệm Phật, chúng ta chỉ thấy các thầy cứ lo khuyên phật tử niệm Phật để chết được vãng sanh mà chẳng thấy đề cao, ca tụng  gì đến nhân cách đặc biệt, siêu phàm, con người vĩ đại và trí tuệ siêu việt cùng với lòng từ bi vô biên của Đức Phật Thích Ca.

Có một vị giáo chủ là một con người phi thường có thật với nhân cách tuyệt vời như vậy, lẽ ra đạo Phật sẽ có lợi thế hơn các tôn giáo thờ thần khác khi khai thác các chủ đề về con người và nhân cách của vị thầy của mình để cũng cố lòng tin của tín đồ đối với vị giáo chủ của mình,  nhưng hầu như các băng đĩa hoằng pháp của các chùa hiện đã không làm được điều này, rất ít các thầy giảng về Đức Phật Thích Ca.

Các đạo tràng niệm Phật của chúng ta thì đa số là người già, trong khi các nhà thờ Tin Lành thì số người trẻ đến dự lễ rất đông, người già cũng có nhưng không bao nhiêu.  Một người bạn trẻ (tưởng tôi muốn vô đạo) tâm sự với tôi rằng anh ta ở miền trung, vào đây làm việc, không có nhà cửa, vào đạo Tin Lành được giúp đỡ mua nhà, anh ra miền trung đón cha mẹ vào.

Lúc đầu anh nói cha mẹ anh vào đạo, cha mẹ anh phản đối, nhưng khi chứng kiến sự giúp đỡ, cha mẹ anh cũng bị thuyết phục. Anh kết luận: “Hồi xưa thì cha mẹ có quyền, cha mẹ  nói thì con cái không dám cãi. Thời buổi này, con cái nắm kinh tế, mình nuôi cha mẹ, cha mẹ thấy con cái làm lụng cực khổ để lo cho mình nên cũng nghe lời con cái cho chúng nó vui, nên cha mẹ tôi cũng vào đạo luôn.”

Xã hội đã đổi thay…chúng ta phải nhìn nhận thực tế đó.

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (51 bài gửi)

quốc vương 06/02/2010 01:13:18
A DI ĐÀ PHẬT! mình đã xem qua hết những ý kiến của các đạo hữu, mình thấy các ý kiến hình như là tạm chia thành hai thái cực thì phải.Tại sao mình cứ phải cho là người này đúng người kia sai, ở đây mình đóng góp ý kiến là nhằm để cùng xây dựng một đạo Phật ngày càng hưng thịnh hơn chứ không phải là để người này đưa ra ý kiến bác bỏ người kia hay là người của tông này chống tông kia, tất cả các pháp điều là Phật pháp,sao tông này lại phải chê tông kia để rồi gây sự mất đoàn kết giữa các tông khi mà tất cả điều là đệ tử Phật.Có bao giờ quý đạo hữu nghĩ tại sao Đức Phật lại dạy chúng ta đến nhiều pháp môn đến vậy hay không? chúng ta hãy thử lấy ví dụ một người xa nhà muốn đi về nhà thì họ có rất nhiều cách đi nhưng vì người này đi xe hơi bị say xe nên không đi xe hơi được vậy người đó có thể đi bằng phương tiện khác chẳng hạn như xe máy,tàu thuyền,tàu hỏa...có rất nhiều cách để chọn miễn sao là người đó chọn cho mình một phương tiện thích hợp với tình trạng của mình để về đến nhà là được.Khi chúng ta tu tập cũng vậy pháp môn nào thích hợp với căn cơ của mình thì tu tập theo,nhưng phải chú ý một điều quan trọng là tất cả các pháp môn điều là Phật pháp cả, đừng để thế lực vô minh lợi dụng vào đó để chia rẽ tăng đoàn.Và các đạo hữu cũng nên nhớ là mình phải "Phê bình và tự phê bình" để rồi hoàn thiện bản thân mình chứ không phải là phê bình là để chỉ trích người này hay nói xấu người kia. Và đừng cho bản ngã làm chủ bản thân mình mà hãy cố gắng tu tập sao cho bản ngã của mình càng ngày càng nhỏ lại. Chúng ta hãy cùng chung tay nhau góp một chút ít công đức nhỏ bé của mình cho Phật pháp.A DI ĐÀ PHẬT.
thang tri 30/01/2010 23:57:24
các bạn nghĩ mà xem theo tôi giáo lý của PHẬT chỉ độ người có duyên .lôi kéo nhiều tín đồ mà không chịu tu hành ,không có nhiều người chứng đạo quả .chùa to cảnh lớn mà không có PHẬT thì đẻ làm gì. thôi không lo xa nữa bạn ơi !!!mình cứ tu đi nhé mặc kẻ vô duyên..
tuệ minh 24/01/2010 09:29:11
MÔ PHÂT ! NHÂN QUẢ KHÔNG SAI, PHẬT PHÁP VÔ NGÔN!" ĐẠO BẤT NGÔN TỪ KHẢ GIÁC NHÂN'
Hà My 17/01/2010 22:21:10
Tôi đọc bài viết này cũng lâu lắm rồi, đọc tất cả các phản hồi. Tôi là phật tử đi chùa ko theo sự hướng dẫn của bất cứ ai, nhưng chính tiếng niệm Phật, tiếng chuông Bát Nhã, tiếng Kinh kệ đã kéo tôi vào Đạo Phật và gắn bó tới tận bây giờ, trong khi đó cha mẹ tôi ko theo Đạo nào hết. Sự tinh hoa của Đạo Phật là nhân duyên, là nhân quả nghiệp báo... để con người với nhau sống tốt hơn. Bố thí, niệm Phật làm cho cuộc sống của tôi thêm ý nghĩa. Tôi cũng mới chỉ 22 tuổi, tôi đi chùa và sống ở chùa vào hè, rất nhiều người trẻ đi chùa, ăn chay và nghe Pháp... Niệm Phật là một trong những phương pháp giúp cho Phật tử luôn cảm thấy mình gần Phật pháp, hành trì theo lời dạy của ngài.
Tôi có rất nhiều bạn theo đạo khác, tôi cũng đọc một số sách của những đạo đó nhưng tôi thầy ko có đạo nào tuyệt vời như Đạo Phật, ngài có nói: "Tin ta mà ko hiểu ta là phỉ báng ta" nên tôi hi vọng là người Phật tử, ai cũng nên tìm hiểu về lời dạy của ngài để ứng dụng vào cuộc sống. Đức Phật là đấng cha lành của muôn loài, Ngài luôn từ bi với tất cả chúng ta, không phân biệt hay dụ dỗ bất cứ ai, mọi thứ là do chính chúng ta tạo nghiệp mà ra...
Nguyễn Trí Dũng 11/01/2010 16:10:16
Tịnh Độ Tông hay bất kỳ tông phái Phật nào ở nước ta cũng cần phải cải cach để thu hút giới trẻ.

Năm nay tôi 24 tuổi, tôi bắt đầu biết đến Phật Pháp là những năm học cấp 2. Nhưng trong lớp tôi khi tối nói đến chữ "đạo" lập tức các bạn bè sẽ nghĩ tôi là người đạo chúa vì chỉ có thiên chúa mới là đạo. Cứ như vậy cho đến ngày nay tôi cũng quen dần với cách nhận xét đó của bạn bè xung quanh.

Nhớ tết năm rồi tôi rủ 1 người bạn học chung theo đạo chúa đi chùa diệp 30 tết. Đến chùa tôi chào thầy và giới thiệu người bạn mình nhưng thầy và các phật tữ khác chỉ nhìn người bạn này 1 cái rồi ai làm việc nấy không như tôi đến nhà thờ thiên chúa.

Chiến lượt mảketing của tin lành hay thiên chúa hút được giới trẻ, Phật giáo chúng ta có thể áp dụng thực tế khoa học của mình để hút giới trẻ nếu không tương lai không biết còn ai biết Phật pháp là gì không
Quách Tĩnh 07/01/2010 23:15:46
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui : bên Phật ngồi Thiền thấy mình khôn ra, khỏe mạnh ra thật đấy, mình luyện 1 năm theo Tiểu Chu Thiên và Đại Chu Thiên chứ cũng chưa bao giờ đến Chùa nghe giảng Đạo toàn xem giáo lý nhà Phật trên mạng, còn bạn bè đi nhà thờ hơi bị nhiều(Sinh Viên Đà Nẵng theo Chúa hơi bị nhiều).Đạo nào cũng tốt cả !
hoang kim 21/12/2009 17:03:36
ĐẠO NÀO CŨNG NÊN TÀI THÍ LẪN PHÁP THÍ
HOÀNG KIM

Đọc qua những bài viết và ý kiến về chuyện “cải đạo” mà Tin Lành đang áp dụng trong xã hội ta, tôi nghĩ chúng ta nên bình tĩnh một chút mà thấy cái lý của họ, và rút kinh nghiệm cho chính đạo Phật chúng ta.
Đạo Tin Lành dùng vật chất đến với người nghèo khổ, rồi sau đó dẫn họ vào đạo, cũng là một cách hoằng pháp, để phát triển tín đồ. Dù rằng họ đặt điều kiện hơi “trắng trợn”, nhưng không phải là không hợp lý. Khi con người đang rơi vào cảnh thắt ngặt, thì ai đến cứu giúp tự nhiên họ sẽ có cảm tình. Giả sử đạo Tin Lành không “ép” người ta cải đạo đi nữa, thì với cảm tình ấy không sớm thì muộn người ta cũng theo đạo. Đó là quy luật tình cảm, tâm lý, cũng là quy luật nhân quả. Người nhận dần dần sẽ phụ thuộc người cho, dù muốn hay không. Nhưng theo tôi, “may” mà Tin Lành đặt điều kiện thẳng thừng kiểu đó nên một số Phật tử chúng ta mới nảy sinh cảm giác khó chịu, rồi phản đối, chứ nếu họ cứ thủng thẳng đi bằng cách nhẹ nhàng, êm ái, chăm sóc, thủ thỉ, có khi mình càng mến họ hơn, rồi tự động theo họ, khỏi cần điều kiện gì cả.
Đối chiếu với đạo Phật, chúng ta thấy công tác hoằng pháp của mình có lẽ còn nhiều điều phải bàn.
Thứ nhất, chúng ta chưa kết hợp tài thí và pháp thí một cách hiệu quả. Nhiều chuyến cứu trợ từ thiện của chúng ta chỉ đem tiền bạc và thức ăn tới cho dân chúng, rồi rút về thản nhiên. Người ta nhận phong bì 100.000đ, ăn chỉ chừng vài ngày là hết, sau đó lại nghèo đói như cũ, và cũng không hiểu biết gì về đạo Phật. Bóng áo nâu vừa khuất dạng, người ta lại trôi lăn trong tham sân si, lại gây nghiệp, lại đau khổ. Nghĩa là, chúng ta có tài thí mà không pháp thí, không cung cấp một bài học đạo lý nào, rốt cuộc đạo Phật vẫn xa rời quần chúng.
Ngay cả với những Phật tử hằng ngày đến chùa cũng chưa chắc nhận được pháp thí. Nhiều ngôi chùa, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, không hề có buổi giảng pháp nào, không có lớp giáo lý nào. Cho nên, sự hiểu biết của Phật tử rất mong manh, rất dễ bị dụ dỗ đi theo những đường hướng khác. Nói chi tới đạo Tin Lành, ngay cả những đạo Mẫu, những ông đồng bà cốt cũng “dụ” Phật tử của mình được kia mà! Nghĩa là, không có sự giáo dục về Phật pháp thì bất cứ ai cũng có khả năng “cải đạo” cho Phật tử, trách chi Tin Lành!
Chính vì thế mới đặt vấn đề hoằng pháp lên hàng đầu, nếu không, Phật giáo sẽ đi vào vết xe lịch sử lụi tàn như đã từng xảy ra ở Ấn Độ và một số nước khác. Cảnh báo từ bây giờ không phải là thừa!
Thứ hai, ngược lại, chúng ta lo pháp thí mà quên tài thí. Hầu hết những Phật tử đến chùa nghe pháp, thường chỉ có bổn phận cúng dường, chăm sóc Tam Bảo và chư tăng, chứ ít khi thấy họ được chăm sóc trở lại. Đành rằng cúng dường thì có phước, và chính vì bổn phận thiêng liêng đó mà Phật tử mới được gọi là Ưu bà tắc, Ưu bà di (Cận sự nam, Cận sự nữ). Tuy nhiên, đâu phải ai cũng đủ điều kiện cúng dường, ngay cả người đủ điều kiện thì cũng có lúc thăng lúc trầm, rất cần sự chăm sóc của nhà chùa. Tại sao nhà chùa không hỗ trợ vật chất cho người Phật tử có hoàn cảnh khó khăn, để họ càng an tâm tu học? Thí dụ cho mượn vốn để kinh doanh nhỏ, giúp tiền khi nằm viện, đóng học phí, học nghề… Sự thắt ngặt thì ai cũng có, và khi Phật giáo xuất hiện đúng lúc thì ảnh hưởng còn lớn hơn khi bố thí đại trà mỗi hộ 100- 200.000đ. Kiểu tài thí đại trà của chúng ta là cách cho “con cá”, còn giúp đỡ theo cách vừa kể là cho “cái cần câu cá”, xem ra Tin Lành biết áp dụng hơn chúng ta.
Nếu chúng ta áp dụng tài thí lẫn pháp thí bằng động cơ trong sáng, bằng cả trái tim từ bi, thì đạo Phật sẽ đến với quần chúng một cách nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ, sâu sắc, làm sao đạo khác có chỗ chen chân. Không cần phải lên án đạo khác, chỉ trích kinh này kinh kia của họ, không khéo sẽ thành “chiến tranh tôn giáo”, chỉ cần chúng ta biết cách xiển dương cái hay cái đẹp của mình là đạo Phật đủ sức đứng vững. Mà cái hay cái đẹp này phải tựa trên cả đôi chân lý thuyết và thực tế. Lý thuyết tuyệt hay với kho tàng Phật pháp, và thực tế cũng thật gần gũi với hành động cứu khổ. Thiếu một trong hai điểm tựa này thì đạo Phật sẽ hụt hẫng. Tôi thường giảng cho học trò của mình về một Tịnh Độ ở nhân gian, và cả Tịnh Độ của Phật A Di Đà. Hiện tại và tương lai đều là tịnh độ, đều an vui, tích cực nếu có cả lý thuyết lẫn hành động chân chánh. Xin hãy nhìn pháp môn Tịnh Độ với con mắt như vậy!
HƯƠNG SEN 19/11/2009 19:48:16
Qua phản hồi của Minh Hoàng tôi hiểu rằng bạn đã chưa tìm hiểu sự tu chứng Thiền Tứ Niệm Xứ hoặc còn gọi là Thiền Vipassana . Tôi xin trình bày qua 5 vấn đề sau đây :

1. Đức Phật Thích Ca khi chưa thành đạo đã tu 6 năm khổ hạnh nhưng không đạt
được kết quả , sau khi dùng bát sữa của nàng Suhita Ngài đã nguyện dưới cội cây Bồ đề như sau : " Nếu ta không đắc đạo quả giải thoát dù cho tim có khô , huyết có cạn ta thề nguyện không rời khỏi cội Bồ đề này " và đến 49 ngày dưới cội bồ đề Ngài đã đạt đạo quả cao thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

2. Điều này cho ta thấy tu là phải có mục đích và ý chí mãnh liệt . Trong Kinh 37 Phẩm trợ đạo của Ngài Ledi Saydaw , Chương IV : Phẩm " Tứ Như Ý Túc " đã phân tích rất rõ bốn loại Như ý túc . Đó là :
* Dục như ý túc : tâm mong muốn ra khỏi sinh tử luân hồi .
* Cần như ý túc : tinh tấn đầy đủ
* Tâm như ý túc : tâm nhu nhuyến dễ sử dũng cho đầy đủ
* Tuệ như ý túc : trí tuệ nắm bắt đối tượng , Chánh niệm cho đầy đủ .

3. Câu truyện về con của trưởng giả Mahadhana có thói quen quá đổi lợi dưỡng trong nhục dục ngũ trần lúc thiếu thời nên không thể thành tựu khi niên cao tuổi lớn . Con đường giải thoát xa xôi diệu vợi, chí đến cơ hội sống quen thuộc với Tam bảo anh cũng không có được . Khi thấy tình trạng khốn khổ của anh Đức Phật nói với Đại Đức Ananda : " Nầy Ananda, nếu con của nhà triệu phú kia xuất gia, trở thành một tỳ khưu trong Giáo Huấn của Như Lai trong thời son trẻ, thời kỳ thứ nhất của cuộc đời, anh ta đã chứng ngộ đạo quả A La Hán và sẽ nhập Đại Niết Bàn trong kiếp sống nầy. Nếu xuất gia, trở thành tỳ khưu vào thời kỳ thứ nhì của đời sống, anh ta đã là một vị A Na Hàm và khi chết sẽ tái sinh vào cảnh Vô Phiên Thiên của các vị Phạm Thiên, rồi từ đó chứng đắc đạo quả A La Hán và nhập Đại Niết bàn .
Nếu xuất gia sống đời tỳ khưu trong Giáo Huấn của Như Lai vào đầu thời kỳ thứ ba của đời sống, anh sẽ chứng đắc hoặc Tư Đà Hàm hoặc Tư Đà Hườn và đã vĩnh viễn không còn bao giờ tái sinh vào khổ cảnh.

Đức Thế Tôn nói với Ngài Ananda như vậy . Mặc dù con của nhà trưởng giả triệu phú đã có tích trữ Ba la mật đủ chín mùi để làm cho kiếp sống hiện tại là cuối cùng .

Những người có thói quen nói rằng đến chừng nào các ba la mật của mình đủ chín mùi, thời gian sẽ trở nên thuận tiện và chừng ấy họ sẽ đủ thuần thục để giải thoát ra khỏi mọi khổ đau của thế gian , đúng lúc ấy họ sẽ dễ dàng thành đạt giải thoát, hiện giờ họ không tận lực gia công vì không biết chắc công trình khổ nhọc ấy có đưa đến thành quả tốt đẹp không.

Hình như các vị ấy không so sánh những khổ đau mà họ phải chịu trong thời gian ba mươi năm chuyên cần tinh tấn với những hoàn cảnh bất hạnh vô cùng kham khổ mà họ sẽ phải gặp, nếu trong khoảng thời gian chờ đợi cho đến ngày giải thoát họ phải sa đọa vào cảnh địa ngục cả trăm ngàn năm . Có vẻ như các vị ấy không nhớ rằng những khổ nhọc mà họ phải chịu trong ba mươi năm chuyên cần tinh tấn không đến đổi cùng cực khổ đau như chỉ ba tiếng đồng hồ trong cảnh địa ngục .

Đây là những lời mà trong bản dịch 37 phẩm trợ đạo của Ngài HT LEDI SAYDAW đã được Ngài nhắc đi nhắc lại trong suốt 10 Chương .

4. Ngài Ajahn Chah là vị Thiền sư Thái Lan đã vào tận rừng sâu , sống đời sống Tỳ kheo như thời Đức Phật , Ngài chỉ ăn ngọ và hành thiền Tứ Niệm Xứ . Sau đó người phương tây ; Anh , Pháp , Úc tìm đến học đạo Ngài rất nhiều và tại nơi đó trường thiền mở ra cho cả ngàn thiền sinh đến tu tập. Ngài thường dạy :
" Những ai muốn về nhà mình đến nơi đến chốn sẽ không chỉ giản dị ngồi yên một chỗ rồi suy tư về cuộc hành trình .Vị ấy phải thật sự dấn thân vào cuộc đi, bước từng bước một theo đúng chiều hướng, để cuối cùng về đến nhà . Nếu đi lạc đường họ có thể gặp phải những khó khăn như bị đầm lầy hoặc các chướng ngại khác, cản ngăn mà không thể đi bọc vòng quanh. Hoặc nữa, trong khi lầm đường lạc nẽo họ có thể rơi vào những hoàn cảnh hiểm nguy và sẽ không bao giờ về được đến nhà .

Cùng thế ấy, đi trên con đường nhằm đạt đến Phật Pháp là công trình mà mỗi người chúng ta, từng cá nhân, phải tự mình gia công nỗ lực, bởi vì không ai khác có thể làm cho chúng ta .

5. Niết bàn được dịch ra từ tiếng Pali là Níp paná , Níp là không , Bàn là tham . Niết bàn là không tham đắm .
Xét qua những vấn đề trình bày trên tôi nghĩ Bác 66 tuổi đã thấy rõ con đường mình đang đi là đúng và Bác ấy đã thệ nguyện với ý chí mãnh liệt dù tuổi đã cao, Giáo Huấn mà Đức Phật luôn nhắc nhở là : Đóng 4 đường ác đạo ( Ngạ quỹ , A tu la, súc sinh và địa ngục), tức là tu chứng Tu đà hườn .

Chỉ những người không biết rõ con đường mình đang đi và chỉ nói suông mà không làm thì mới thật đáng e ngại .

Tu là phải có tuệ , Đức Phật thường dạy : Chớ có tin dù là lời Như Lai nói mà hãy hành đi , vì chỉ có hành thì chúng ta mới chứng nghiệm được Phật Pháp rất vi diệu .

Chúng ta may mắn đang sống trong thời kỳ Chánh Pháp năm ngàn năm của vị Phật hiện tại , thời đại Chư Thánh nhân đắc đạo đắc quả vẫn còn, khi mà Tam Tạng kinh điển còn lưu truyền trên thế gian . Hãy cố gắng thực hành thiền vắng lặng tức Thiền Tứ Niệm Xứ . ( trích trong 37 phẩm trợ đạo Ngài Ledi Saydaw )

Thiền sư Khánh Hỷ dạy : " Sau năm ngàn năm chánh pháp không còn , người tu dù có tu thiền nhưng không phải là thiền Tứ Niệm Xứ chỉ có phước chứ không thể giải thoát. "

Nếu có gì không vừa ý xin vui lòng bỏ qua cho .
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
PTVN thật hay 17/11/2009 17:14:03
Trang PTVN thật hay, mục phản hồi này đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến bài viết mà tác giả chưa nói ra hết.
Có người phát biểu và có người phản biện nên vấn để được sáng tỏ hơn.
Nếu không có những phát biểu đôi khi rất ngây ngô, chủ quan nhưng lại có các vị khác phản biện, làm sáng tỏ nên đọc giả lại được thấy thêm một vấn đề mới, kiến thức mới.
Nếu không có hỏi/đáp như thế này thì khi gặp tình huống hàng phật tử lại băn khoăn không biết hỏi ai, rồi bị dẩn dắt bởi tà giáo.
Xin cám ơn PTVN, cám ơn tất cả quý đạo hữu tiên sinh.
CPT 15/11/2009 20:26:31
Một ví dụ rất dân dã, rất cơ bản:
Ai cũng biết học chữ, biết chữ là cần thiết cho mọi con người, đưa con người từ ngu muội đến văn minh. Nhưng một đứa trẻ có tự nguyện đến trường học chữ không? Xin thưa KHÔNG.
Muốn một đứa trẻ biết chữ thì chính cha mẹ đứa bé hoặc người lớn, người thân phải định hướng, ép vào khuôn khổ, cho đến khi đứa bé trưởng thành, nhận thấy sự cần thiết của "con chữ" nó mới tự bước đi với cuộc đời của nó được.
Cũng vậy, khi đã là một Phật tử thì ta đã biết sự vi diệu của Phật pháp, sự cần thiết của Phật pháp. Nhưng một người hoàn toàn xa lạ với Phật pháp thì cần phải có người định hướng cho họ, thuyết giảng cho họ.
Vậy, việc hoằng pháp, việc đưa chánh pháp đến cho mọi người là cực kỳ cần thiết; người tích cực hoằng pháp sẽ được vô lượng công đức.
Ai có trách nhiệm duy trì mạng mạch Phật pháp? tất cả những ai đã hiểu biết về Phật pháp, nhưng trên cao nhất là chư vị tôn túc. Nếu cứ ù lì, nếu cứ chủ quan, nếu cứ lạc quan tếu, . . . thì ta đã có lổi với chúng sanh, có lổi với Đức Phật.

Thưa bạn Chánh Đức!
Bạn nói ["Người đi tầm đạo, chứ đạo không đi tầm người" bạn ơi.].
Xin lổi bạn, qua câu phát biểu này tôi thấy bạn là một người vô trách nhiệm với cuộc đời và kém hiểu biết về tinh thần Phật giáo. Nếu ai ăn cơm đàn na tín thí mà học theo tinh thần của Chánh Đức thì tôi cam đoan rằng cửa địa ngục đang rộng mở chờ đó quý vị.

Hãy nhìn tấm gương là Đức Phật Bổ Sư Thích Ca Mâu NI.
Sau khi Ngài thành đạo, Ngài đã dấn thân, vất vã thêm 45 năm để hóa độ chúng sanh.
Nếu nói như Chánh Đức thì sau khi thành đạo Ngài đi tuốt về niết bàn cho rồi, vất vã với cái đám chúng sanh ngu muội này cho khổ vậy?
Ta vẫn biết không ai có thể sánh được với Đức Phật. Nhưng một giáo sư tiến sĩ hay một thầy giáo làng xóa mù chữ đều có ý nghĩa của một vị Thầy.
Minh Hoàng 14/11/2009 12:20:06
Cách nay 1 tuần, tôi có gặp một bác 66 tuổi. Trước đây bác là một công chức. Bác kể, bác đã tham gia khóa tu thiền Vipassana được vài năm. Mục tiêu bác ấy đặt ra là đầu năm tới bác sẽ qua Miến Điện tiếp tục tu thiền thêm 2 năm nữa, đến khi đạt quả {Tu đà hườn} mới về.
Tu thiền theo đạo Phật là một điều tốt. Nhưng không biết Phật tử được thuyết dạy thế nào mà ai cũng vậy, tông phái nào cũng vậy cứ đặt cho bản thân một mục tiêu {{trên trời}} thì tôi e ngại quá.

Trong kinh Mūlapariyāyasuttam, Majjhimanikāya nguyên thủy, Đức Phật dạy: "Này các tỷ kheo, Như Lai Bậc A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác, biết rõ (abhijānāti) Niết Bàn là Niết Bàn. Với thắng trí (abhiññāya) Niết Bàn là Niết Bàn, Như Lai không nghĩ tưởng (maññati: tưởng tượng) đến Niết Bàn, không nghĩ tưởng trên Niết Bàn, không nghĩ tưởng từ Niết Bàn, không nghĩ tưởng Niết Bàn là (của) ta, không quá vui thích (abhinandati) Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì biết rằng vui thích (nandā) là căn bản của khổ, là hữu, là sanh tử của chúng sinh".

Đó là một vì dụ về lý tưởng tu hành của đạo Phật.
Mong rằng hàng Phật tử chúng ta cùng suy nghiệm.
Hương sen 12/11/2009 14:32:38
Cảm ơn thật nhiều bài phản hồi của tác giả Minh Tuệ và Lan Phương phân tích từng vấn đề một thật là rõ ràng sâu sắc giúp tôi ngộ ra rằng : Các Pháp Hữu vi là vô thường , Tứ diệu đế là chân lý mà Đức Từ Phụ đã chỉ cho chúng ta thấy, thế nhưng ở cõi Tịnh độ quả thật là không có vô thường , chỉ toàn là thường , là tuyệt đối tốt đẹp .
Phan Như Bảo 11/11/2009 22:58:37
Lan Phương ! Tôi không phải là 1 Phật tử, về danh nghĩa, và chẳng là tín đồ của Tôn giáo nào cả ( tôi đã viết ý kiến bên bài " Thêm vài ví dụ về Tin lành, nghĩ về Phật giáo VN ".

Trở lại bài này, ý kiến tôi viết : "..Không như nhiều pháp môn khác như Thiền tông, Mật tông, Khất sỹ...chú trọng đến nét cá biệt trong phuơng pháp tu hành" không có nghĩa là tôi cho CÁ BIỆT LÀ TIÊU CỰC, mà cá biệt chính là khế lý khế cơ.

Về các pháp môn tu, tông phái, xét về HÌNH THỨC thì mỗi một tông phái đều có lịch sử ra đời của nó ; có tông phái thời Phật Thích ca tại thế, có tông phái sau khi ngài nhập diệt. Nhưng về Phật thì có hằng hà sa số Phật, từ vô lượng kiếp, thời gian VÔ THỦY VÔ CHUNG ; có Phật trợ duyên , có PHẬT ĐỘC GIÁC ; có cảnh giới này có cảnh giới khác, có địa cầu này có hệ mặt trời khác ; có nhiều tông phái không hề hiện diện trên trái đất này mà ở hành tinh khác.

Vì vậy về thực chất không thể dùng 1 lịch sử ra đời ( về mặt hình thức-sắc tướng ) để đánh giá 1 tông phái, mà mọi tông phái về thực chất dù có tồn tại hay không về mặt hình thức thì nó vẫn luôn thị hiện đó đây dưới nhiều cách khác nhau từ vô lượng kiếp rồi. Chẳng hạn, pháp môn Tịnh độ về hình thức ra đời thế kỷ 4 sau công nguyên tại Trung Hoa, nhưng về thực chất thì nó đã được nhắc tới trong chuyện ngài Mục Kiền Liên, với câu dạy của Phật với Mục Kiền Liên để cứu mẹ : "

..."Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được.."

Đấy, chính HỢP LỰC CÒN MẦU NHIỆM HƠN CẢ THÍCH CA ( bên Công giáo có câu "lực hành tĩnh niệm / tâm nguyện huyền đồng" , Công giáo ra đời sau đạo Phật không biết có phải học ý này từ đạo Phật không, nghe có giả thiết Jesus từng là 1 Phật tử ).

Nếu hiểu Tịnh độ chỉ là CẦU _ TƯỞNG - ĐI THEO TƯỞNG_VÃNG SANH tuy đúng, nhưng còn thiếu, thiếu HỢP LỰC, mà hợp lực chính là ĐẠI THỪA, nghĩa là mọi THỪA đều VI DIỆU những không HỢP LỰC thành ĐẠI THỪA thì gọi là mang tính PHẬT ĐỘC GIÁC.

Và, cũng nếu chấp vào SẮC TƯỚNG của ông phái Tịnh độ mà bỏ Thiền viện, bỏ Tịnh xá, bỏ tu viện....xây chùa Tịnh độ thì đó cũng làm mất đi tính HỢP LỰC -ĐẠI THỪA , khi đó phái Tịnh độ cũng chẳng có ý nghĩa gì nữa.

Phật pháp vượt ra ngoài khái niệm không gian và thời gian, nên không vì 1 lịch sử ra đời và hình thức tu tập của 1 tông phái để lấy đó làm căn cứ duy nhất để đánh giá, so sánh ; đó chẳng qua là cái SẮC biểu hiện từ cái KHÔNG.

Thực tình mà nói thì tôi cũng chịu thôi, không biết giải thích như thế nào cho cặn kẻ, bởi Phật tính thì không thể dùng ngôn từ để diễn đạt cho đạt được, nên tùy cảm nhận của mỗi chúng sanh, mỗi người, của Lan Phương, của tôi mà cảm nhận, hy vọng cũng có khi rồi sẽ đạt "trạng thái chúng ta gặp nhau". Cũng có khi tôi thực sự đang trạng thái "chấp vào ảo" cũng nên. Tùy bạn.

Trước mắt, các tôn giáo bạn phát triển mạnh như ngày nay trên thế giới, là do nhiều lý do tốt có xấu có, nhưng có 1 điểm mạnh mà ta không thể bỏ qua đó là họ tuy ra đời sau nhưng đã biết học theo Phật giáo ( có thể ) và vận dụng HỢP LỰC để từ nhiều dòng tu họ tạo ra 1 sức mạnh ĐOÀN KẾT _HỢP LỰC _ ĐẠI THỪA. Vậy đạo Phật cần có 1 tông phái làm " NHẠC TRƯỞNG " để bắt nhịp cho nhiều tông phái cùng "đồng ca".

Trong cảnh giới nào, thời nào chưa nói, nhưng trong thời nay thì tôi thấy chọn Tịnh độ làm "nhạc trưởng" là phù hợp.
Hoang Oanh 11/11/2009 16:57:09
Phat day: moi chuyen tuy duyen.
Co duyen chung ta moi den duoc voi Phat, duoc nghe,duoc hieu va duoc thuc hanh phat phap.Dao phat khong dung bat cu hinh thuc hay phuong phap nao de keu goi moi nguoi nen theo Dao phat, hay di theo Dao phat.Nhung nguoi theo Dao phat cu an nhien lam theo nhung deu Phat day,an nhien theo phat...khong co bat cu vi Tang chan chinh nao khuyen ban nen theo Dao Phat,cung khong vo va moi goi cac ban theo dao, tat ca la do TAM cua ban ma thoi.That ra thi neu that su hieu dao phat thi co vao dao hay khong cung khong phai la mot dieu quan trong.
Xin cam on tac gia Minh Tue da cho toi hieu them ve Dao Tin Lanh.Nhung dao nao cung huong con nguoi den cai tot,cai dep..that ra theo dao nao khong phai la dieu quan trong,quan trong la chung ta se song nhu the nao thoi.Nam mo a di da phat.
Trí Minh 11/11/2009 10:00:15
Không biết giờ là thờ đại nào rồi mà còn lắm người ngồi cãi nhau xuông thế. Thay vì tranh luận chúng ta hãy bắt tay vào việc đem giáo pháp đến với quần sinh, cải cách những yếu điểm của Phật giáo để giáo lý của Phật Đà dễ tiếp cận và đừng để tín đồ nhạt đạo, cải đạo. Đừng chờ ở Giáo Hội mà Giáo Hội là chính chúng ta, chúng ta là thành tố cấu thành lên giáo hội. Chũng ta hãy làm những việc mình có thể dù rất nhỏ, thì việc lớn sẽ thành. Phật giáo sẽ không còn đối mặt với nhưng thách thức to lớn. Như vậy Phật giáo sẽ còn tồn tại và con cháu chúng ta còn cơ hội được theo đạo Phật, người thần chúng ta còn cơ hội theo đạo Phật. ơn nữa là số đông chư Thiên và loài người được hạnh phúc an lạc nhờ giáo lý Phật đà.
ĐOÀN VĂN THOẠI 10/11/2009 23:19:27
xin chân thành cảm ơn quý đạo hữu đã đăng bài viết này. Đây là bài viết rất nhiều tâm huyết và công đức cũng vô lượng khi chỉ rõ yếu kém và PGVN cần xem xét và giải quyết.
Tôi không dám đánh giá quan điểm của đạo hữu có đúng hay không nhưng những nhận xét của đạo hữu không hoàn toàn trùng với những gì tôi hiểu về Pháp môn Tịnh độ. (1) Niệm Phật không chỉ nhằm mục đích cầu và hướng về cái chết mà còn có nhiều ý nghĩa thiêng liêng hơn nhiều, ví dụ như luôn nhắc nhở mình sống tốt, sống theo chánh Pháp... (2) Niệm Phật chỉ là bước khởi đầu của Pháp môn, Pháp tu quán tưởng còn cao và thánh thiện hơn nhiều, nhiệm màu hơn nhiều... (3) Niệm Phật giúp chúng sinh nhớ Phật, ơn Phật mà sống tốt, làm tốt. Chúng sinh tùy căn cơ mà tu tập. Theo tôi được biết các Phật tử tại gia thường niệm Phật, còn những vị thầy xuất gia thì tu cao hơn nữa. Tôi cũng là Phật tử tại gia, tôi không niệm Phật thường xuyên nhưng tâm tôi luôn nghĩ về Ngài, về những gì Ngài dạy. Mọi lúc mọi nơi dù ở đâu làm gì tôi cũng tưởng tượng rằng Ngài đang dõi theo tôi, đang che chở tôi và mỉm cười khi tôi làm tốt. Như thế tôi nghĩ mình cũng theo Pháp môn Tịnh độ.
Có một điểm mấu chốt mà theo quan điểm cá nhân tôi cần nêu. Đạo Tin lành họ làm thế nhằm mục đích truyền đạo, thu hút đạo chứ không phải cái tâm của họ là giúp đỡ, là độ đời. Bạn hãy nhìn đi, thực tế PGVN cũng đâu kém gì, những gì mà các Thầy làm không cần kể, không cần phô bày mà tâm các thầy làm nên ít người biết cũng là điều dễ hiểu. Những việc đó còn thánh thiện hơn nhiều, cao cả hơn nhiều và nhọc nhằn hơn nhiều. (tôi không kể ra bằng chứng vì tôi thấy là không cần thiết).
Tất nhiên, bài viết của bạn có đưa ra thực tế cảnh chúng sinh tham tiền vật chất mà quên Chánh Pháp, quên mất điều thiêng liêng trong giáo pháp mà Đức Từ Phụ dạy thì thật là đáng thương lắm lắm. Đây cũng là gợi ý để ban Hoằng Pháp xem xét và có biện pháp cứu độ những chúng sinh tội nghiệp đó.
cuối cùng chân thành cảm ơn bạn đã viết bài. có thể bài của bạn không phải nhằm mục đích chính như nội dung mà theo tôi nghĩ khi bạn viết bài này thì bạn có nhiều mục đích cao cả hơn. Chân thành cảm ơn và chúc bạn thân tâm thường an lạc.
-----------------------
NAMOYTS
http://namo2009.wordpress.com/
Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 10/11/2009 22:18:31
Đức Phật dạy chúng ta rằng:
"Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị Chư Phật giáo"
Có nghĩa là:
"Không làm các điều ác
Nên làm những việc lành
Thanh tịnh Tâm - Ý mình
Đó là Chư Phật dạy"
Như vậy thì 84.000 Pháp môn, ai tu Pháp môn nào cũng tốt! Sao người thích Pháp môn này thì lại chê Pháp môn kia vậy?
Tôi muốn hỏi Bạn Minh Tuệ rằng: Ban đang tu theo Pháp môn nào vậy? Nếu Bạn Tu môn nào mà không thanh tịnh "Tâm" và "Ý" thì có thành công không?
Người tu Tịnh Độ Tông cũng phải Tu đến Thanh Tịnh Tam Nghiệp mới đắc Tịnh Độ(Tịnh Độ hiện tiền)!
Bởi vì Văn Cảnh Sách dạy rằng:
"Dục tu Tịnh Độ
Tu thanh Tam Nghiệp,
Tam Nghiệp ký khiết
Tịnh Độ khả thành,
Tam Nghiệp bất cần
Tịnh Độ vô nhân"
Nghĩa là:
"Muốn tu Tịnh Độ thành công!
Cốt sao Ba Nghiệp sạch trong làu làu,
Thân - Khẩu - Ý trước, sau tinh khiết
Thời hiện tiền Tịnh Nghiệp mới nên!
Trau dồi Ba Nghiệp chưa chuyên
Vãng sinh Tịnh Độ nhân duyên lu mờ"
Và để thực hành tu Tịnh Độ thì người Phật tử phải làm như sau:
"Thân: cần Lễ bái - Tọa thiền!
Miệng: cần Phúng Tụng, Lặng im ít lời!
Ý: cần chuyên không rời Tịnh - Niệm,
Đêm và Ngày kế tiếp không ngơi.
Mới hay Tịnh Độ hiện thời
Rõ ràng Tam Muội sáng ngời tự "Tâm".
Ngoài sáu thời chuyên Tâm tu tập
Không chuyện trò đón tiếp vãng lai,
Nếu còn giao thiệp bề ngoài
Chỉ e Tịnh Nghiệp phí hoài công phu"
Như vậy thì Tu Tịnh Độ không phải là như Bạn nghĩ đâu! Những người Tu theo Tông Tịnh Độ là họ biết họ đang làm gì chứ! Đâu phải tìm cầu ở đâu xa đâu? Mà họ đang Định Tâm cao độ khi Lễ Phật - Tham Thiền - Tụng Kinh - Niệm Phật(Im lặng + Tĩnh lặng + Nhớ tưởng đến Phật = Tịnh Niệm) sẽ đạt được Tam Nghiệp Thanh Tịnh đó chính là Nhân.
Và: "Tam Nghiệp Thanh Tịnh đồng Phật vãng Tây Phương" đây chính là Quả nhờ sự Tu Tập.
Vậy thì người Tu không phải là chỉ nói hay để có người theo mình hoặc tin mình! Mà điều quan trọng hơn cả là phải thực hành(Tu Tập) để đạt được mục đích là Thành Phật(Kết Quả = Sáng ngời tự Tâm là đã diệt hết Vô Minh). Nếu Tu(Diệt Tham - Sân - Si) mà không đạt được mục đích Thành Phật(Tam Nghiệp Thanh Tịnh = Phật Vị Lai) thì chỉ phí công mà thôi!
Vậy Pháp Môn Tịnh Độ là Con đường đi Tắt để sớm thành Phật. Nếu ai cũng Tu theo Tông Tịnh Độ thì làm gì có Ai chê Ai? làm gì có xã hội đảo điên(Thân: Bất chính(Sát + Đạo + Dâm); Miệng: Cãi cọ, chửi mắng, nói dối, nói càn(Vọng Ngữ); Ý: yêu, ghét, sân hận, lừa đảo, xảo trá(Tham + Sân + Si). Vậy thì Tông phái nào hơn đây?
Phật Giáo tại miền Bắc có hơn 2000 năm lịch sử, cũng đã trải qua bao thăng trầm cùng vận mệnh đất nước. Xong đến nay chưa có ai bỏ Pháp Môn Tịnh Độ và Niệm Phật cả! Đức Pháp Chủ xưa và nay cũng là Người Tu Tịnh Độ - Niệm Phật. Hòa Thượng Chủ Tịch HĐTS, Đệ nhất Phó Pháp Chủ nổi tiếng là người dịch nhiều Kinh nhất đến nay cũng đang Tu Pháp Môn Tịnh Độ - Niệm Phật đó Bạn ạ!
Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 10/11/2009 22:03:31
Bạn Minh Tuệ thân mến!
Nếu bạn là tín đồ của Thiền Tông thì cứ theo Thiền Tông. Người tu Tịnh Độ Tông thì cứ theo Tịnh Độ Tông. Trong 84.000 pháp môn, ai dùng pháp môn nào thì dùng. Không nhất thiết phải dùng cả 84.000 pháp. Quan trọng là tu sao cho rốt ráo! Ai theo Công Giáo thì theo, ai theo Tin Lành thì theo! Đây là Quyền Tự Do Tôn Giáo của loài người! Đâu cứ phải Phật Giáo chiếm hữu tín đồ? Thế Giới cũng vậy! Điều quan trọng hơn cả là "Người Phật Tử" phải đúng là Người Phật Tử chân chính và "Người Tu Sĩ" phải đúng là Người Tu Sĩ chân chính!
lan phuong 10/11/2009 20:30:09
Kính gừi bạn Phan Như Bảo,

Tôi vốn không thích xen vào những cuộc bàn cãi xem pháp môn nào là hay nhất (vì pháp môn nào hay nhất là tùy theo căn cơ của mỗi người) tuy nhiên phản hồi của bạn khiến tôi không thể không chú ý. Theo bạn thì “ Không như nhiều pháp môn khác như Thiền tông, Mật tông, Khất sỹ...chú trọng đến nét cá biệt trong phuơng pháp tu hành, pháp môn Tịnh độ chứa đựng tất cả những tinh hoa của hàng vạn pháp môn khác, vận dụng linh hoạt thành phương pháp Tịnh độ cho chúng sanh cũng như con người dễ tiếp cận và có thể giúp đỡ nhau trong cộng đồng cùng tu tập.”


Tôi không biết lấy căn cứ ở đâu, số liệu từ những nghiên cứu nào mà bạn có thể khẳng định là “Chính Tịnh độ là con thuyền có khả năng chuyển tải và bảo toàn nhất những giá trị Đạo Phật từ quá khứ đến tận hôm nay. Và chỉ có Tịnh độ mới có khả năng nhất làm cho đạo Phật vươn mạnh trên thế giới hơn các pháp môn khác có thể làm được.” trong khi hiện nay pháp môn Tịnh Độ hầu như không lôi cuốn được người dân bản địa tại nước tiên tiến tại châu Mỹ, châu Âu mặc dù Phật giáo có thể nói là đang nở rộ tại các quốc gia này. Tôi đã một lần qua Úc và ghé đến đạo tràng niệm Phật của hòa thượng Tịnh Không ở Sydney, đạo tràng đa số chỉ toàn là người Hoa và một ít người Việt, trong khi dân Úc lại theo Phật giáo Theravada và Tây Tạng.


Thôi thì cứ cho là “pháp môn Tịnh độ chứa đựng tất cả những tinh hoa của hàng vạn pháp môn khác, là con thuyền có khả năng chuyển tải và bảo toàn nhất những giá trị Đạo Phật từ quá khứ đến tận hôm nay” như bạn nói đi, xem ra bạn cũng có vẻ hết sức thông hiểu về pháp môn Tịnh độ nên bạn mới viết những câu chắc nịch như thế, vì vậy, nhân đây tôi muốn bạn cùng với tôi cùng xem xét vấn đề “Liệu trên cõi Cực lạc có đạo Phật không?” trên quan điểm cùng nghiên cứu.


Chúng ta đều biết rằng, giáo lý của Đức Phật được xây dựng trên chân lý cao cả Tứ Diệu Đế : Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. Do nền tảng của Tứ Diệu Đế là “khổ”, nên ở đâu có khổ thì ở đó giáo lý của Đức Phật mới có điều kiện để được chiêm nghiệm và hiển bày. Được xem là vị thầy chữa bệnh khổ, Đức Phật chỉ cho chúng ta tám cái khổ trói buộc chúng sanh trong cõi ta bà này là sanh khổ, già khổ ,bệnh khổ, chết khổ, thương yêu xa lìa khổ, oán thù mà gặp mặt hoài khổ, mong muốn không được khổ, thân này tự bại hoại không an khổ và Đức Phật đồng thời cũng chỉ cho chúng ta con đường Bát Chánh Đạo để chúng ta tu tập, ngõ hầu đạt được Giải Thoát – Niết Bàn, chấm dứt sanh tử để vĩnh viễn không bao giờ còn phải bị vướng vào trong tám cái khổ đó nữa. Đó là lý do tại sao phật tử chúng ta tu tập và tìm cầu sự giải thoát theo lời Đức Phật dạy.


Theo như kinh A Di Đà thì sống trong cõi Cực Lạc con người được hạnh phúc tột đỉnh (bởi vậy mới được gọi là cõi Cực Lạc), ngoài việc ở trong lầu gác vàng gác tía … cư dân trên đó còn muốn gì được nấy, khỏi cần làm việc vì muốn ăn gì thì thức ăn tự bày ra cho ăn, ăn xong thì chẳng cần phải rửa dọn gì hết vì chén, dĩa và các thức ăn thừa tự động biến mất, muốn mặc gì thì áo quần tự hiện ra theo như ý muốn của mình để mà mặc… và vì không bao giờ gặp những chuyện bất như ý nên có nghĩa là họ chẳng bao giờ vướng vào tám thứ khổ mà con người ở cõi ta bà này phải đối mặt, họ chỉ biết ăn xong rồi tu cho đến khi đạt được Giải thoát – Niết bàn thì thôi.


Vấn đề đặt ra ở đây là lý do gì và động lực gì khiến cư dân Cực lạc phải tu tập để giải thoát tám thứ khổ của dân cõi ta bà phải chịu trong khi bản thân họ không hề biết những cảnh khổ đó gì? Bạn có thể chỉ cho tôi lý do tại sao cư dân trên cõi Cực lạc hướng đến Giải thoát- Niết Bàn nhằm giải phóng mình thoát khỏi những thứ mà chúng chẳng hề trói buộc họ không? Giải thoát – Niết bàn vì vậy tại sao có ý nghĩa gì với họ? Và vì tuổi thọ của họ là vô lượng, tại sao họ không sống hoài để hưởng sự “cực lạc”, mà tự nhiên lại đi tìm Giải thoát – Niết bàn, mà nói theo ngài Ajahn Chah, Giải thoát – Niết Bàn có nghĩa là không có gì hết !


Phải thấy rằng ở đâu có khổ thì ở đó giáo lý của Đức Phật mới tỏ rạng được chân lý của nó. Đức Phật là vua trị bệnh khổ, ở một nơi toàn những chuyện sung sướng như cõi Cực lạc, bạn nghĩ xem ai sẽ cần đến Đức Phật cũng như giáo lý của Ngài? Ví như một bác sĩ trị bịnh ung thư giỏi, ông ta chỉ có thể có việc làm khi ở một nơi có bệnh nhân ung thư. Nếu ông sống một nơi không có bệnh ung thư, thì dầu cho giỏi cách mấy, vị bác sĩ đó cũng trở thành vô dụng. Một vị vua trị bệnh khổ giỏi như Đức Phật nếu ở vào một cõi chỉ toàn có hạnh phúc tột đỉnh như cõi Cực lạc thì cũng thì cũng tương tự như ông bác sĩ trị bịnh ung thư đó thôi. Tôi tin rằng cho dẫu nếu có giáo lý của Đức Phật trên cõi Cực lạc thì cũng chẳng có ai hiểu được Tứ Diệu Đế là gì bởi vì cư dân trên đó có ai biết khổ là gì đâu. “Khổ” là một danh từ vô cùng trườu tượng đối với họ, đừng nói gì đến chuyện tu tập theo con đường Bát Chánh Đạo để đạt đến Giải thoát – Niết Bàn.

Theo như Đức Phật dạy, cư dân cõi trời còn có động lực tu để tìm Giải thoát vì khi hết phước họ còn bị đọa (vậy mà Đức Phật còn dạy là ở cõi trời rất khó tu!) Với cư dân ở cõi Cực lạc, đã lên tới đó rồi là không bao giờ bị quay trở lại (nếu không thích, tôi suy nghĩ nát nước mà không thể nào tìm ra lý do để cho thấy họ cần phải tu tập để giải thoát (khổ) cả, mà nếu họ không cần tu tập để giải thoát vậy thì giáo lý của Đức Phật có ích gì cho họ, và vì giáo lý của Đức Phật không có ích gì cho họ, lý do gì để đạo Phật tồn tại trên cõi Cực lạc? Bạn có thể giải thích cho tôi điểm này được không?

Ở đâu có chân lý Tứ Diệu Đế thì ở đó có đạo Phật: đây là một sự thật. Pháp môn niệm Phật dựng nên một cõi mà chân lý Tứ Diệu Đế không đất sống như vậy mà bạn lại nói rằng” “Tịnh độ là con thuyền có khả năng chuyển tải và bảo toàn nhất những giá trị Đạo Phật từ quá khứ đến tận hôm nay” thì kể cũng lạ. Thật ra, giá trị của Đạo Phật nằm trong Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và sự nổ lực của chính bản thân của từng cá nhân trong việc tu tập để chuyển hóa tâm của mình chứ không phải ở sự cầu xin “ai đó” cứu độ mình đâu bạn ạ. Tôi nghĩ rằng bạn là một người tu pháp môn niệm Phật và tôi mong rằng khi bạn mãn báo thân này, bạn sẽ được lên Cực lạc theo như ý nguyện của bạn, nhưng tôi e rằng ở trên đó bạn sẽ chẳng bao giờ còn thấy được hình ảnh của Đức Phật Thích Ca với khuôn mặt an tĩnh và nụ cười từ bi của Ngài như hiện nay bạn được thấy -khi đang sống trong cõi ta bà này

Chúc bạn an vui.
Minh Tuệ 10/11/2009 13:57:59
Kính thưa bạn Minh Tấn,

Tôi viết bài này không mục đích đã phá pháp môn Tịnh Độ (như tôi đã nói và xin lỗi trước trong bài viết của tôi), chỉ muốn nêu lên một sự thật. Cho dẫu mục đích sâu xa của pháp môn Tịnh Độ có thù thắng đến mấy đi nữa, nhưng do pháp môn này cứ hướng phật tử tới việc niệm Phật vãng sanh, nên người bàng quang nhìn bên ngoài sẽ thấy nó là một pháp môn không có sức sống, không có động lực sống so với những lời rao giảng cũng như cách thức sinh hoạt của giáo dân đạo Tin lành. Đó là mục đích mà tôi muốn nói tới trong bài.

Tôi chẳng biết gì về độ sanh phải tùy phương tiện của pháp môn Tịnh độ cũng như sự thông linh giữa con người và chư Phật (!?) nhưng tôi hiểu rõ sự nhiệm màu của Phật pháp khi chúng ta chuyên tâm niệm Phật (như bạn đặt vấn đề).

Là một phật tử cũng có nghiên cứu chút ít khi tu học nên tôi có đọc khá nhiều sách vở về pháp môn Tịnh độ cũng như xem cũng khá nhiều đĩa VCD hoằng pháp của pháp môn này, trong đó có ghi lại những người được vãng sanh nào là biết trước ngày giờ chết, thấy Phật và các Bồ tát đến đón rước… Thật tất cả những cái này nếu bạn có hành thiền bạn sẽ hiểu rằng đều là do “tưởng” sinh ra, tu niệm Phật cũng là một dạng định, khi bạn ngồi thiền, bạn sẽ thấy những ứng tướng tùy theo tâm của bạn tưởng mà sanh lên, vì vậy chúng được gọi là “tưởng”. Thí dụ trong khi niệm Phật, hành giả có thể thấy hoa sen, có khi thấy cảnh giới Cực lạc… trong khi người hành thiền lại thấy Đức Phật, thấy hào quang, nghe âm thanh… tất cả đều là “tưởng”.

Do sự khác biệt giữa mục đích tu tập mà người hành thiền và người tu niệm Phật ứng xử với “tưởng” có khác nhau. Pháp môn niệm Phật tập cho hành giả thói quen phóng tâm ra ngoài để chạy theo một đối tượng bên ngoài là A Di Đà để đối tượng này dắt đi vãng sanh hay nói cho dễ hiểu là tái sanh, hành giả vì vậy chấp vào những cảnh do “tưởng” tạo cho đó là thật, là mầu nhiệm và cũng chính những cảnh đó sẽ dắt hành giả đi tái sanh theo đúng như ý muốn của hành giả (còn tái sanh vào cảnh nào, có được sanh vào cõi Cực lạc hay không là tùy theo công năng tu tập của hành giả, bởi vậy có người niệm Phật được vãng sanh mà có người thì không, chứ không phải ai niệm Phật cũng được vãng sanh)

Khác với hành giả tu niệm Phật, người tu thiền, mục đích của họ là Giải thoát – Niết bàn nên họ luôn giữ tâm trong thân. Trong khi hành thiền họ cũng thấy cảnh này, cảnh kia nhưng họ không chấp vào đó vì sợ để tâm phóng ra ngoài, bị “tưởng” lôi đi. Nhiều hành giả trong khi hành thiền, do quá thỏa thích với những cảnh trong thiền định, nhất là khi đã vào sâu trong định, họ bị “tưởng” lôi đi và bị tẩu hỏa nhập ma là vậy.

Khi chết, nếu hành giả tu niệm Phật thấy chư Phật, Bồ tát đến rước (do “tưởng” của họ mà có ) thì bên tu thiền cũng vậy, nếu công năng tu tập của hành giả chưa đủ để giải thoát, người tu thiền sẽ tái sanh vào cõi trời tương đương với năng lực định của họ, họ cũng biết trước ngày giờ chết, cũng thấy chư thiên của tầng trời mà họ tái sanh về đến đón rước họ (cảnh giới lành), tuy nhiên do mục đích của họ là đạt Giải thoát , Niết bàn, nay dụng công chưa đủ nên ”tưởng” đến rước đi, nên họ đành ngậm ngùi đi theo “tưởng”, chẳng lấy gì hãnh diện mà để cho người khác quay video cảnh chết, cảnh thiêu để lấy xá lợi của mình để phổ biến cho mọi người xem .


Nếu tu định thì tái sanh lên cảnh giới lành để hưởng phước, nếu không tu tiếp, hết phước sẽ bị đọa. Trừ những người tu thiền tuệ, đắc được các quả như:

Tu đà hườn (thánh Nhập lưu): Tái sanh là người hoặc làm trời có đầy đủ trí tuệ tối đa 7 kiếp, luôn sinh trong gia đình có chánh kiến và giàu sang.

Tu đà hàm: Tái sanh một kiếp trong cõi người hoặc trời

A na hàm (thánh Bất lai): Không còn trở lại các cõi dục giới mà tái sanh vào các cõi Phạm thiên sắc giới và nhập Niết bàn ngay tại đó.

A la hán: Nhập Niết bàn ngay tại cảnh nhân loại này.


Đó là sự hiểu biết của tôi về sự nhiệm màu của Phật pháp khi chúng ta chuyên tâm niệm Phật.

Như Yellow Leaf nói: “Chúng ta cứ cầu xin mọi thứ cho bản thân mình cũng là một hình thức nuôi dưỡng lòng vị kỷ, đó cũng đã đi ngược tinh thần tu tập của Đạo Phật rồi đó.” và CPT: “Chúng ta hạnh phúc vì có Đức Phật thị hiện, chúng ta hạnh phúc vì được học giáo pháp của Ngài, chúng ta hạnh phúc vì được làm đệ tử của Ngài. Vậy chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi ngày càng có nhiều người ñoàng đạo với chúng ta. Để làm được điều đó, chúng ta phải biết "bố thí - ái ngữ - lợi hành - đồng sự ! " thay vì chỉ cầu nguyện riêng cho bản thân chúng ta.” Thật vậy, Đức Phật dạy chúng ta tu tập để diệt tham sân si, để đạt tới giải thoát Niết Bàn chứ đâu phải dạy cho chúng ta tu để tái sanh. Niết Bàn là không tham. Nếu chúng ta “tham” lên Cực lạc, cho dẫu đó là lòng “tham” tốt, thì tham tốt vẫn cứ là tham và chính lòng “tham” tốt đó đã đưa bạn đi tái sanh đó bạn ạ.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
1 2 3 next tổng cộng: 51 | đang hiển thị: 1 - 20
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả