An cư
image

“An cư” là ở yên một chỗ. Truyền thống nầy có trước thời Đức Phật, một số ngoại giáo đã áp dụng.

Khi Đức Phật thành đạo,  Tăng đoàn còn thô sơ, giới luật chưa áp dụng rộng rãi;  Lục quần tỳ kheo thong dong tự tại trong mùa mưa, gây nhiều tai tiếng trong tín đồ, dẫm đạp côn trùng và cây cối, trôi dạt y bát, làm mất oai nghi của bậc xuất trần; vì thế, đức Phật đã chế định “an cư” vào mùa mưa để chư Tăng an trú một chỗ, tránh làm tổn hại sinh vật, có thời gian  tu tập, tăng trưởng nội lực, sách tấn chuyên cần để hồi hướng cho Tứ ân trọng.

Do truyền thống được duy trì mà trên 2555 năm vẫn tồn tại và được áp dụng hầu hết trên các quốc gia có mặt Phật giáo.

Mục đích an cư ba tháng không tiếp xúc bên ngoài xã hội là để trao dồi giới đức, chuyên cần thiền định.

Mùa “an cư” được thể hiện tinh thần Lục Hòa trong cộng đồng tu sĩ. Đồng thời trưởng dưỡng nội lực; trao đổi kinh nghiệm hoằng hóa  và trải nghiệm tâm linh.

Tuổi Hạ được tính  vào những mùa “an cư” của tu sĩ. Một Tỳ kheo trẻ dưới 5 tuổi Hạ không được rời bổn sư hoặc y chỉ sư. Cho dù đủ tuổi Hạ theo quy định nhưng chưa thông hiểu kinh luật cũng chưa thể xa thầy.

Một Tỳ kheo đủ 10 tuổi Hạ mới có quyền nhận đệ tử hoặc được làm truyền giới sư.

Thực chất nguyên nghĩa của “an cư” là an kỳ tâm, cư kỳ thân. Một người an định tâm hồn  và nơi ở an tịnh cũng được hiểu là “an cư”. Nhưng theo luật học dành cho cộng đồng Tu sĩ, “an cư” có nghĩa là ở yên một nơi trong ba tháng hạ để thúc liễm thân tâm, trao dồi giới đức, tăng trưởng Giới – Định – Tuệ để xứng là ruộng phúc cho bá tính gieo duyên.

Lúc bấy giờ, một số tu sĩ  hiều theo tinh thần cực đoan, an trú ba tháng mưa nhưng không ai nói với ai lời nào, lúc cần, chỉ ra dấu, bị Phật quở, mục đích an cư không phải biệt chúng mà phải cùng nhau chia xẻ sự hiểu biết và kinh nghiệm tu tập.

Từ đó, các trường Hạ thường lập thời khóa tu tập và học hỏi Kinh Luật Luận.

Vào thời Phật hiện tiền, sau ba tháng chuyên cần, một số  đã chứng đắc từ sơ quả đến Alahan. Cư sĩ cũng chứng đắc một phần Thánh quả. Vì thế theo luật tạng, một tu sĩ không nhập hạ phạm vào tội Đột Kiết La. Trong thời gian Hạ không được vượt ra khỏi phạm vi Hạ đàn. Nếu có duyên sự chính đáng và quan trọng, có thể tác pháp yết ma trước đại chúng hoặc trình bạch với ban chức sự trường Hạ để xuất Hạ với thời gian được ấn định. 

Thời gian ra khỏi trường hương  dưới 1/3 của thời gian ba tháng “an cư”. Nếu vi phạm đuợc coi như phá Hạ mà không được tính tròn tuổi Hạ.

Lấy mùa “an cư” làm tuổi của một tu sĩ. Sau ba tháng Hạ, chư Tăng họp lại để tự kiểm điểm hành vi, ý nghĩ của mình, nếu phạm giới sẽ được đại chúng luận tội mà xét xử giúp đương sự tăng tiến trên đường tu tập.

Vì thế rằm tháng bảy gọi là ngày tự tứ, kết thúc  mùa “an cư”.

Cũng trong mùa “an cư”, một số vị Thánh Tăng vượt qua nhiều cám dỗ, thắng chướng duyên đạt thánh quả, hoặc chư Tăng tinh tấn thiền định, tiến tu đạo nghiệp, được chư Phật hoan hỷ tán thán nên gọi là  ngày Phật Hoan Hỷ.

Sau ba tháng trọn vẹn, không bị một lỗi nào dù là nhỏ, Tu sĩ đó được tưởng thưởng  một số điều kiện gia giảm luật lệ tiểu tiết như được thọ thực thêm trước ngọ chính, sắm thêm y hậu, đi lại tự do miễn xin phép, ngủ lại một nơi khi quên đem theo y và được khỏi ăn chung với chúng Tăng. Những ưu đãi nầy được hưởng trọn trong mùa Đông.

Trong luật Tứ Phần quy định “an cư” có thể ở dưới tán cây, trong hang động, trong tư thất, trên thuyền, trong thôn xóm,…nhưng không được ở nơi mất an ninh, nơi gò mả, cây không có tán, nhà lợp bằng da thú…

Khai hạ cũng phải được sự chứng minh của chư tôn đức có phẩm hạ cao. Nếu tự ý tụ tập cấm túc mà không được khai giới, xem như không có tuổi Hạ, được gọi là tặc trú.

Một tu sĩ không có tuổi Hạ, suốt đời không thể được coi là tu sĩ, không thể làm thầy ai được. Tuy nhiên, tùy hoàn cảnh, không thể nhập chúng, dù một tỳ kheo đủ 5 tuổi Hạ, am tường luật nghi khai-trì-giá-phạm, cũng có thể tự an trú nơi thuận tiện trong mùa “an cư”. Phải cung đối  Tam bảo tác pháp “cấm túc”.

Truyền thống Bắc tông khởi đầu mùa “an cư” từ 16/4 a.l đến hết 16/7 a.l hàng năm. Theo Nam Tông thì bắt đầu từ 16/6 đến 16/9 a.l. Sau ba tháng an cư,  tháng bảy là  mùa báo hiếu và xá tội; hàng cư sĩ nương vào oai lực tu tập suốt mùa “an cư” của Tăng chúng mà dâng cúng tứ sự để hồi hướng phước báu đến cửu huyền thất tổ, mẹ cha quá khứ và hiện tiền.

Ngoài luật “an cư” kiết Hạ, còn có một vài trường phái kiết Đông, Kiết Thu hoặc kiết Xuân để tinh chuyên pháp môn riêng. Theo tinh thần an cư, tập thể Tăng già duy trì  luật “an cư” là duy trì được sinh lực Phật giáo.

Ngoại trừ những vùng chiến, tu sĩ không thể quy tập “an cư”, tất cả trên thế giới, dù theo truyền thống nào, luật “an cư” vẫn được duy trì nghiêm túc.

Ở Việt Nam, tinh thần “an cư” tuy có duy trì, nhưng một số trường Hạ chưa có thời khóa tu học miên mật, chính vì thế nhiều tệ nạn không tránh khỏi.

Về mặt tích cực, “an cư” đem lại nhiều lợi ích cho Tăng Thân cả về nội lực lẫn đạo phong nếu áp dụng nghiêm túc luật nghi. Nhưng ngày nay, một số điểm trường Hạ, ban chức sự không phát huy hết chức năng, biến trường hương thành nơi tiêu cực cả về tu tập lẫn lợi dưỡng.

Khai hạ và giải Hạ là nghi tắc của tôn giáo, một số Hạ đàn mời cả chính quyền đến tham dự chứng minh là không đúng.

Những nghi lễ mang tính hành chính phổ cập thì được, ngoài ra những gì thuần túy  tôn giáo, kể cả giới đàn, tác pháp yết ma là việc riêng của nội tình tu sĩ Phật giáo.

Ban tổ chức Hạ đàn, giới đàn cần tách riêng các loại hình sinh hoạt như thế.

Dẫu sao, “an cư” vẫn là chiếc vành giữ cho miệng thúng được an toàn, Phật giáo từ đó vẫn giữ được nề nếp cộng trụ sách tấn lẫn nhau.

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Phản hồi (8 bài gửi)

Mộng du 01/06/2011 05:41:43
Mô Phật.
Đọc đi đọc lại bài của Minh mẫn, rồi thấy bài "an cư" này được đăng nhan nhản tại nhiều trang web Phật giáo, mà chẳng thấy ai bình luận chi cả, lòng tự nhiên thấy buồn.
Phải nói ngay và thẳng rằng, an cư là một phương diện tối quan trọng cho mạng mạch Phật giáo. Ngay khi Phật còn tại thế cho đến nay đã trên dưới 2600 năm, an cư chưa bao giờ bị gián đoạn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đôi lúc vì điều kiện nào đó mà an cư bị biến thái thành một sự tập họp Tăng chúng theo điều lệ cho phù hợp với hoàn cảnh, chẳng hạn như trường hương cách đây trên 50 năm tại nước Việt nam. Thời ấy là thời đại Phật giáo đang xuống dốc bởi sự bành trướng văn hóa do ngoại xâm chủ trương, bên cạnh sự lơ là học tập kinh điển Phật đà của Phật giáo đồ.
Đến thời chấn hưng Phật giáo, An cư lại được tổ chức theo giới luật một cách cụ thể rõ ràng.
Từ ấy đến nay, dù là thời chiến hay thời bình, và cả thời khó khăn sau giải phóng, An cư vẫn được duy trì đúng luật và đúng Pháp.
Thế mà,
Vào đầu thế kỷ 21 này, Trường Phật học các cấp Sơ-Trung hầu như tỉnh nào cũng có, miền nào cũng thành lập Đại học Phật giáo. Một năm đào tạo mấy trăm Cử nhân Phật học, cho ra mấy chục tu sĩ Tiến sĩ và đang du học tại các nước trên thế giới. Ban nghành các cấp Giáo hội có đủ mọi mặt. Chùa, thiền viện được xây dựng, trùng hưng khắp nơi. Giới đàn "Tuyển người làm Phật" mở ra đều đặn và trang nghiêm, chỉnh túc.
Cái thời Phật giáo này đây, với bao sự phát triển chìm có nổi có, bề rộng chiều sâu đều được quan tâm cụ thể. Tinh thần tu sĩ thì trẻ mà năng động, dấn thân trên mọi lĩnh vực; Tôn túc thì mô phạm làm chỗ cho 4 chúng đồng khâm. Thái độ cư sĩ thì hướng cả lên cho Phật giáo, già trẻ lớn bé, nam phụ lão ấu cứ đăm đăm một hướng về tương lai Phật giáo, và tin tưởng tương lai ấy sẽ quật cường, nhiệt huyết, bởi nhìn vào hiện tại thấy tinh thần tự giác và giác tha của người con Phật hiện diện khắp nơi.
Thì có quá quắt, thiên lệch, hồ đồ, tự ti, vô thưởng vô phạt, thiếu trách nhiêm hay không, khi mà Minh Mẫn, trong bài "an cư" được viết vào mùa Phật đản Pl.2555 - Dl.2011, lại nói một cách vô cùng nặng nề như thế này,:
"Ở Việt Nam, tinh thần “an cư” tuy có duy trì, nhưng một số trường Hạ chưa có thời khóa tu học miên mật, chính vì thế nhiều tệ nạn không tránh khỏi."
Như thế nào thì vấn đề được gọi là "tệ nạn"? Minh Mẫn có biết hay không?
Dùng chữ "Tệ nạn" dính liền với trường hạ - một qui định cụ thể và rõ ràng đánh dấu chất lượng tự thân của Phật giáo, thì thử hỏi, cái Phật giáo này có còn "là nơi nương tựa tinh thần vững chắc, và là niềm tin chân chính cho những người tại gia sống giữa cuộc đời hỗn tạp, đầy những hận thù và tranh chấp" nữa hay không?.
Để cuối cùng xin hỏi thẳng rằng, Phật giáo mà "an cư" lại có "tệ nạn", thì cái Phật giáo ấy có còn là Phật giáo nữa hay không, và tồn tại để làm gì cái tổ chức "tệ nạn" ấy.
Kết lại:
Cái gì và hành động gì đi ngược với đạo đức nhân luân, thông thường người ta sẽ gọi cái ấy và hành động ấy là tệ nạn. Ví dụ "Tệ nạn mại dâm", "tệ nạn nghiện game online", "tệ nạn xì ke, ma túy"...
Nay lại có thêm cái "tệ nạn trong trường hạ".
Nam mô Phật đà.
Mộng du 29/05/2011 15:02:45
Gởi bạn KHÁCH PHƯƠNG XA, cũng như gởi cho Minh Mẫn.
Ban chức sự trường hạ không làm hết chức năng. Vậy chức năng nào còn chưa hết, hãy chỉ ra.
Vấn đề an cư kiết hạ không có dính dáng gì với cái trường hương cách đây 50 - 60 năm cả.
trong luật Phật, không có cái gọi là trường hương. Vậy cái trường hương đó nó vận hành theo điều luật nào, để từ đó mà nói rằng "biến trường hương thành nơi tiêu cực cả về tu tập lẫn lợi dưỡng"
Ở Việt Nam, vậy thì ở giai đoạn nào và cụ thể ở đâu, cũng như cái thời khóa tu học miên mật ấy được nhìn từ giới luật, hay là nhìn theo cách đánh giá của Minh Mẫn?
Chẳng có trường hạ nào vào thời đại này mà không đúng hoặc không miên mật cả.
Chỉ có trường hạ này được tổ chức nghiêm túc hơn chỗ khác về mặt này hoặc mặt kia.
Chứ trường hạ nào cũng giống nhau trên cơ bản cả.
Khi trường hạ bị phê bình, vị phê bình ấy phải biết và rành về luật Phật. Chính vì như thế thì sự phê bình ấy mới như Pháp.
Minh mẫn không nắm rõ điều đó, nên phê bình bừa bãi.
Cũng may, đó là sự phê bình vô giá trị, vì nó không như Pháp.
Một trường hạ bị phê bình là " nơi tiêu cực cả về tu tập lẫn lợi dưỡng", thì Tăng luân thời này bị vỡ vụng. Điều ấy cũng có nghĩa Tăng nơi trú xứ kiết hạ đó không được thừa nhận tuổi hạ, và mặt khác, Tăng tập hợp phi pháp, chẳng khác gì sự tụ hợp của Bà la môn.
Cái sai lầm nghiêm trong trong bài viết của Minh Mẫn nó ghê gớm như vậy đấy.
KHÁCH PHƯƠNG XA 29/05/2011 08:35:27
Bài viết của Minh Mẫn có sai, Mộng Du đã chỉ ra. Tuy nhiên, Minh Mẫn đã đúng khi nhận xét:
"Nhưng ngày nay, một số điểm trường Hạ, ban chức sự không phát huy hết chức năng, biến trường hương thành nơi tiêu cực cả về tu tập lẫn lợi dưỡng"
và "Ở Việt Nam, tinh thần “an cư” tuy có duy trì, nhưng một số trường Hạ chưa có thời khóa tu học miên mật, chính vì thế nhiều tệ nạn không tránh khỏi."
Mộng du 29/05/2011 08:04:51
Mong BBt đăng dưới bài An cư của cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ câu này:
( Trích lục từ " Yết ma Yếu chỉ")
Mộng du 29/05/2011 07:58:58
Kính gởi BBT.
Mong ban biên tập hãy đăng bài "An cư" này của cố Ht Thích Trí Thủ theo dạng bài viết.
Tôi không biết gởi lên bằng cách nào cả.
Thông cảm cho.
Mộng du 29/05/2011 07:45:27
AN CƯ
_ Hòa thượng Thích Trí Thủ _

I. DUYÊN KHỞI VÀ Ý NGHĨA

Theo luật Tứ phần (Tứ phần luật 37, An cư kiền độ - đại 22, tr. 830b).
duyên khởi của đức Phật qui định mùa an cư của chúng tỳ kheo xả ra khi Ngài đang trú tại Xá vệ, trong vườn của ông Cấp cô độc. Nguyên do của việc chế định này là bởi vì sự than phiền của các người cư sĩ đối với nhóm sáu tỳ kheo. Nhóm sáu tỳ kheo này thường du hành trong dân gian bất cứ vào mùa nào. Khi mùa mưa đến, họ dẫm đạp chết vô số côn trùng. Các cư sĩ than phiền rằng những tu sĩ ngoại đạo hằng năm vẫn có ba tháng cố định tại một chỗ, ngay đến các loài cầm thú vẫn còn có mùa trú ẩn của chúng; huống chi những người sa môn Thích tử lại không biết nghỉ chân vào mùa mưa, trái lại du hành bất cứ mùa nào. Đức Phật hay biết sự này, và Ngài đã khiển trách nhóm tỳ kheo sáu người ấy.

Ở đây, chúng ta có thể rút ra hai nhận xét. Thứ nhất sự than phiền của các cư sĩ chứng tỏ rằng an cư mùa mưa đã trở thành tục lệ chung cho mọi tu sĩ của các giáo phái tôn giáo thời bấy giờ. Các tỳ kheo do bởi không chấp hành tục lệ này nên bị các cư sĩ chỉ trích. Thứ hai sự khiển trách của đức Phật chứng tỏ rằng mặc dù trước đó Ngài chưa qui định việc an cư mùa mưa, nhưng các thánh tăng hay các tỳ kheo sống tri túc và trì luật nghiêm chỉnh đều không đi lang thang trong các mùa mưa. Như vậy, sự ấn định ba tháng an cư mùa mưa của Phật là hợp pháp hóa một thông lệ hay một tập tục đã được chấp hành một cách tự nhiên giữa các tỳ kheo nói riêng, và cũng chung cho mọi tu sĩ của các giáo phái ngoài đạo Phật đương thời.

Tuy nhiên, xét theo thực tế hành trì của giáo đoàn Tăng lữ về việc an cư mùa mưa, thì sự an cư này không chỉ giới hạn bởi sự việc lại gây tổn hại cho các sâu bọ và các thứ cây cỏ sinh trưởng nhiều trong mùa mưa. Tham khảo thêm trong các kinh điển, chúng ta sẽ thấy việc an cư còn có những mục đích khác hơn thế nữa.

Trước hết, một đoạn ngắn trong kinh Điển Tôn (Trường A hàm 5 - đại 1, tr. 32b) có ghi sự kiện như vầy. Đức Phật kể lại một câu chuyện quá khứ. Trong một tiền kiếp xa xưa, lúc đức Thích Tôn còn hành Bồ tát đạo. Bấy giờ Ngài thọ sanh làm vị đại thần có tên là Điển Tôn. Vị đại thần này được mọi người tôn kính, cho rằng là đã từng thấy Phạm Thiên. Nhưng thực tế thì Điển Tôn chưa từng thấy Phạm Thiên. Điển Tôn tự suy nghĩ rằng, theo truyền thuyết các bực túc nói lại, nếu ai tu tập bốn vô lượng tâm trong suốt bốn tháng mùa mưa sẽ được hội kiến với Phạm Thiên. Do vậy, đại thần Điển Tôn xin phép nhà vua được nghỉ ngơi để có thể tu tập bốn vô lượng tâm trong suốt bốn tháng mùa mưa. Sau bốn tháng, quả nhiên Điển Tôn được hội kiến với Hình Đồng Phạm Thiên, và được phạm Thiên đích thân giảng giải đạo lý cho.

Câu chuyện kể như vậy chứng tỏ việc an cư cố định tại một chỗ để tu tập vào mùa mưa là một quan niệm đã có từ xưa, trước thời đức Thích Tôn rất lâu xa. Cho nên, việc an cư, hạn chế sự đi lại trong mùa mưa, không chỉ vì tránh dẫm đạp côn trùng và cây cỏ, mà mùa mưa còn được quan niệm từ xa xưa là thời gian thích hợp nhất cho sự tu tập để có những tiến bộ tâm linh đáng kể. Chính do điều này mà kinh Chánh pháp niệm xứ nói rằng vào thời kỳ an cư mùa mưa các tỳ kheo ngoại trừ các việc đi đại và tiểu tiện, còn lại phải thường xuyên ngồi kiết già tại một chỗ để tu tập thiền định.(Dẫn bởi Tứ phần luật san phiền bổ khuyết hành sự sao, thượng 4 -đại 40, tr. 58a)
Ngoài ra, sự an cư mùa mưa còn có một ý nghĩa quan trọng khác nữa. Đó là biểu hiện cho tinh thần sống chung hòa hợp của cộng đồng tăng lữ tại một trú xứ. Điều này được thấy rõ trong luật Tứ phần. (Tứ phần luật 37, tự tứ kiền độ -đại 22, tr. 837c). Lúc bấy giờ đức Thích tôn trú tại Xá vệ, trong vườn Cấp Cô Độc. Sau ba tháng an cư mùa mưa, một số đông các tỳ kheo ở Câu tát la đến hầu thăm Ngài. Đức Thế Tôn theo thông lệ hỏi thăm đời sống của họ như thế nào trong ba tháng an cư. Họ trình bày với Ngài sinh hoạt thường nhật của họ. Theo đó, các tỳ kheo này giao ước với nhau trong suốt mùa an cư rằng không ai nói chuyện với ai bất cứ điều gì. Nếu có những việc cần thiết mà người này cần đến sự giúp đỡ của người khác thì chỉ được phép ra dấu chứ không được phép nói. Sinh hoạt này cũng thường xảy ra giữa các nhóm tỳ kheo và được biết nhiều nhất là nhóm ba tỳ kheo dòng họ Thích gồm tôn giả A na luật, tôn giả Nan đề và tôn giả Kim tỳ la, các tỳ kheo khi thì ở Bát na nạn xà (Trung A hàm 17 Trường thọ vương bản khởi - đại 1, tr. 536a)khi thì ở Sa kê đế, (Trung A hàm 18 Sa kê đế tam mộc tánh tứ - đại 1, tr. 544b)và luôn luôn được Phật khen ngợi. Nhưng trong trường hợp các tỳ kheo ở Câu tát la này, thay vì được khen ngợi, đã bị đức Thế Tôn khiển trách. Ngài nói các tỳ kheo này là những người ngu si, sống chung như vậy là khổ nhưng lại tưởng là an lạc; chẳng khác nào những kẻ thù cùng sống trong một trú xứ. Nhiệm vụ các tỳ kheo sống chung là phải giáo giới lẫn nhau, chỉ điểm và sách tấn nahu, chứ không thể sống như những người câm với nhau, cùng một lề lối sinh hoạt, nhưng có trường hợp Phật khen ngợi, lại có trường hợp bị Ngài khiển trách, ấy là thế nào? Đức Phật luôn luôn ca ngợi đời sống trầm lặng của các tỳ kheo, sống xa lánh những nơi ồn ào náo nhiệt. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa rằng một tỳ kheo nên sống tách biệt ngoài cộng đồng Tăng lữ. Sống chung và hòa hợp trong cuộc sống thánh thiện cao cả, giáo giới và sách tấn lẫn nhau, đó là sinh mệnh của Tăng đoàn. Đời sống của một tỳ kheo là sống không gia đình, không cố định vĩnh viễn tại một trú xứ nào, nhưng các tỳ kheo được nối kết nhau thành một cộng đồng thống nhất bằng giới bổn mà họ phải cùng nhau hòa hiệp để tụng đọc trong mỗi nửa tháng. Và sự hòa hiệp ấy được củng cố bằng ba tháng an cư vào mùa mưa.

Như vậy, an cư mùa mưa không phải đơn giản chỉ có nghĩa là hạn chế sự đi lại của các tỳ kheo để tránh làm tổn thương các sinh vật bé nhỏ và các thứ cây cỏ non.

Trong lịch sử phát triển của đạo Phật, sinh hoạt an cư kiết hạ là một nhân tố tích cực để các đệ tử tại gia có điều kiện thuận tiện tham gia vào sự nghiệp củng cố và phát triển giáo đoàn Tăng lữ. Tăng đoàn thanh tịnh và hòa hiệp là tiêu biểu của sức sống cụ thể của giáo pháp mà đức Thích Tôn đã từng giảng dạy. Đó cũng là nơi nương tựa tinh thần vững chắc, và là niềm tin chân chính cho những người tại gia sống giữa cuộc đời hỗn tạp, đầy những hận thù và tranh chấp.

Một Phật tử tại gia, có niềm tin thuần tịnh trong sáng đối với Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới, luôn luôn được ghi nhận với bốn đức tính: thân cận thiện sĩ, học hỏi chánh pháp, suy nghĩ sâu sắc những điều đã học hỏi, và hành trì những điều đã được chiêm nghiệm. Trong bốn đức tính ấy, đức tính thứ nhất, thân cận thiện sĩ, tức gần gũi các bậc thiện trí thức, những bậc đạo cao đức trọng. Mỗi năm, vào mùa mưa, khi các tỳ kheo tạm thời dừng chân tại một trú xứ, thì đây là thời gian mà những người tại gia có điều kiện thích hợp nhất để thường xuyên gần gũi các bậc thiện sĩ, học hỏi chánh pháp. Do thế, họ có thể phát huy các đức tính đặc trưng của một Phật tử tại gia có niềm tin thuần tịnh đối với chánh pháp.

Trong thời gian đức Thích Tôn còn tại thế, các Phật tử tại gia hoặc tự lực cá nhân nếu có đủ điều kiện, hoặc những người thân thuộc nhau, hoặc những người cùng sống trong một làng, một thành phố, hợp tác nhau thỉnh các tỳ kheo về tại trú xứ của mình an cư kiết hạ, và hỗ trợ các tỳ kheo các nhu cầu cần thiết để các ngài có điều kiện thuận tiện cho sự tu tập suốt trong ba tháng mùa mưa. Các truyện ký của Phật giáo thuộc các nền văn học bản sanh và bản duyên thường ghi nhận có nhiều tỳ kheo đã chứng đắc quả A la hán trong thời gian an cư này, nhờ sự hỗ trợ của các cư sĩ về các nhu cầu hằng ngày.

Một cộng đồng thanh tịnh và hòa hiệp, cùng học và cùng tu như sữa với nước vậy, quả là niềm tin và hy vọng cho con người sống giữa cảnh đời náo nhiệt; và nó chứng tỏ rằng chánh pháp mà đức Thích Tôn đã giảng thuyết, nếu được thực hành một cách trọn vẹn, sẽ là cơ sở cho một thế giới an lành. Đây là điều mà vua Ba tư nặc đã bày tỏ với đức Thế Tôn về niềm tin của mình đối với chính pháp được Thế Tôn giảng dạy và chúng đệ tử thực hành trọn vẹn.(Trung A hàm 59, kinh pháp Trang Nghiêm - đại 1, tr. 795b).
Nói tóm lại, duyên khởi của sự an cư kiết hạ của chúng tỳ kheo dù đơn giản được nói là do đức Thế Tôn tùy thuận theo ước muốn của các đệ tử tại gia, nhưng trong ý nghĩa sâu xa thì nó là sinh mạng tồn tại của chánh pháp được duy trì bằng đời sống thanh tịnh và hòa hiệp của cộng đồng Tăng lữ. Chừng nào chúng tỳ kheo còn nhiệt thành trong phận sự an cư ba tháng thì bấy giờ chánh pháp vẫn còn là sức sống phong phú để loài người làm nơi qui ngưỡng và xây dựng một thế giới an lành.

II. HẠN KỲ AN CƯ
Tính theo lịch Ấn độ thời xưa, ngày an cư bắt đầu từ mồng một trăng tròn tháng A sa đà, tức vào khoảng nửa tháng 6 dương lịch kéo dài suốt ba tháng, cho đến hết ngày trăng tròn tháng Ất thấp phược đệ xà. Theo sự ghi nhận của ngài Huyền Trang trong Tây vực ký (Đại đường Tây vực ký 2 - đại 51, tr. 876a : "Theo Thánh giáo của Như Lai, mỗi năm có ba mùa. Từ 16 tháng giêng đến 15 tháng 5 là mùa nóng. Từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 9 là mùa mưa. Từ 16 tháng 9 đến 15 tháng giêng là mùa lạnh… Tăng đô Ấn độ y theo Thánh giáo của phật tọa an cư mùa mưa, hoặc phần trước của ba tháng, hoặc phần sau của ba tháng. Ba tháng đầu của mùa hạ là từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 8, theo lịch Trung quốc.” Ba tháng đầu của mùa hạ, Hán: tiền tam nguyệt hạ, vì mùa mưa gồm 4 tháng trong đó chia làm 3 tháng đầu và 3 tháng cuối.)và Pháp Hiển trong Nam hải ký qui nội truyện thì ngày mồng một trăng tròn tháng A sa đà tương đương ngày 16 tháng 5 theo lịch Trung quốc. Các xứ Phật giáo phương nam bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 tính theo lịch Trung quốc. Nhưng ở Trung quốc, các luật sư qui định an cư vào ngày 16 tháng 4 theo lịch Trung quốc. Sự qui định này lấy cơ sở từ bản dịch chữ Hán kinh Vu lan theo đó, ngày tự tứ được nói là ngày 15 tháng 7 lịch Trung quốc, do vậy, ngày kiết hạ an cư phải bắt đầu từ 16 tháng 4, các xứ ảnh hưởng Phật giáo Trung quốc như nước ta và nước Nhật đều theo thông lệ kiết an cư vào ngày 16 tháng 4. Đây là do sự ước tính sai khác về thời tiết mà các địa phương không đồng nhau. Như ở nước ta, mùa mưa giữa miền Bắc và miền Nam cũng có sự sai khác nhau hơn một tháng. Tuy vậy, theo phong tục mỗi nước mà ấn định để phù hợp với thời tiết an cư. Ngày rằm tháng 7, ở nước ta cũng như ở Trung quốc xa xưa đã trở thành ngày lễ quan trọng, cho nên ngày kiết hạ an cư vẫn phải bắt đầu từ ngày 16 tháng 4, mặc dù vào thời kỳ này nhiều địa phương ở nước ta chưa bước vào mùa mưa. Do sự sai biệt theo truyền thống này mà nước ta hai hệ Tăng già Nam và Bắc truyền không kiết hạ an cư cùng một ngày thống nhất như nhau.

Thông lệ nước ta từ xưa ngoài hạn kỳ ba tháng kiết hạ, còn có hạn kỳ ba tháng kiết đông, tức an cư vào mùa đông, khoảng từ 16 tháng 9 đến hết ngày 15 tháng 12. Đây là thực hành theo điều được qui định bởi Bồ tát giới Phạm Võng. Theo đó, người thọ giới bố tát, nếu mỗi năm vào hai thời mùa hạ và mùa đông mà không an cư để tọa thiền, hành đầu đà thì phạm tội khinh cấu. Ý nghĩa của sự qui định này là do bởi mùa hạ quá nóng bức và mùa đông quá lạnh lẽo nên sự hành đạo và hóa đạo của người thọ giới Bồ tát thường gặp phải nhiều khó khăn, do đó, không thể du phương giáo hóa mà cần phải an cư tọa thiền để bồi dưỡng đạo đức bản thân.

Dù có sự qui định như vậy, nhưng theo tinh thần Phật chế trong các luật tạng Thanh văn, thì mỗi năm chỉ có một mùa an cư duy nhất cho các tỳ kheo, do vậy, chỉ có một mùa an cư chính thức mà thôi, và như vậy mỗi năm cũng chỉ có một ngày tự tứ, lấy đó làm cơ sở tính tuổi hạ lạp của tỳ kheo. An cư mùa đông, nếu có thực hành, thì cũng không có ngày tự tứ và không căn cứ theo đó mà tính hạ lạp.

Vả lại, đời sống Tăng già nguyên thuỷ, y trên bốn thánh chủng, và đức Thế Tôn cũng thường nhắc nhở các tỳ kheo rằng không nên dừng chân tại một chỗ quá lâu, cho nên luật cho mỗi năm chỉ có ba tháng an cư là thời gian mà tỳ kheo tạm thời không du phương hành đạo và giáo hóa.

Có hai hạn kỳ của sự an cư mùa mưa, gọi là tiền an cư và hậu an cư vào ngày mồng 1 trăng tròn tháng 4 A sa đà, tức tương đương ngày 16 tháng 4 hay tháng 5 tùy theo cách tính tháng giữa lịch Ấn độ và lịch Trung quốc. Trong khoảng từ ngày 17 tháng 4 hay tháng 5 cho đến hết ngày 16 tháng 5 hay tháng 6 được gọi là thời kỳ của hậu an cư. Nói theo thông lệ ở nước ta, ngày kiết tiền an cư là vào ngày 16 tháng 4 âm lịch, và từ ngày 17 đến hết ngày 16 tháng 5 là thời kỳ của hậu an cư. Trong thời kỳ hậu an cư, luật cũng chia làm hai phần là trung an cư và hậu an cư. Trung an cư bắt đầu ngày 17 tháng 4 đến hết ngày 15 tháng 5. Hậu an cư là ngày 16 tháng 5. Dù có hai cách chia các thời kỳ an cư như vậy, nhưng trong tác pháp thường chỉ đề cập đến hai trường hợp là tiền và hậu an cư mà thôi.

Nếu kiết tiền an cư thì đến hết ngày 15 tháng 7 là hết kỳ hạn. Nếu hậu an cư bắt đầu từ ngày 17 tháng 4 thì hết ngày 16 tháng 7 là hết hạn. Cứ theo đó mà tính, cho đến nếu kiết hậu an cư vào ngày 16 tháng 5 thì hết ngày 15 tháng 8 là hết hạn. Nói cách khác, hạn kỳ an cư nhất định phải đủ ba tháng, gồm 9 tuần mỗi tuần 10 ngày. Nhưng do tháng thiếu của âm lịch, nên ít khi đủ cả 90 ngày.

Điều cũng cần nhớ ở đây là thời gian ngày và đêm trong Luật tạng luôn luôn được tính theo sự sáng và tối của mặt trời. Do đó, nói rằng hạn kỳ an cư bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 (hay tháng 5 ta). Có nghĩa là phải kể từ khi ánh sáng mai vừa xuất hiện của ngày đó. Và nói rằng đến hết ngày 15 tháng 7 tức là hết đêm 15 này lúc ánh sáng mai của ngày 16 hôm sau bắt đầu xuất hiện. Ánh sáng xuất hiện được phân biệt theo hai cách: hoặc sáng đủ để nhìn thấy các đường chỉ trong lòng tay, hoặc đủ sáng để phân biệt được lá vàng với lá xanh. Như vậy, một tỳ kheo từ chỗ khác muốn đến an cư tại một trú xứ nào đó thì phải đến trước khi ánh sáng mai của ngày 15 tháng 4 vừa xuất hiện. Để chấp hành đúng thời điểm, các luật sư Trung Hoa còn phân tích chi tiết thêm rằng, nếu tỳ kheo trên đường đi đến trú xứ an cư, nhưng chưa kịp bước chân vào cương giới của trú xứ mà ánh sáng ban mai xuất hiện thì phải liệng một cục đất cho lọt trước vào trong trú xứ. Nguyên tắc cơ bản phải giữ là phải đặt chân lên đất của trú xứ trước khi ánh sáng mai hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp do duyên sự không thể đến đúng thời điểm, vẫn không vi phạm nếu tâm niệm luôn luôn hướng vào trú xứ an cư.

III. THỌ AN CƯ
Tăng có ba việc phải làm để tác pháp thọ an cư. Đó là phân phòng xá, hành trù và bạch an cư.

1. Phân phòng xá
Tăng đoàn nguyên thủy hoàn toàn y chỉ trên bốn Thánh chủng, do đó, các tỳ kheo không sống cố định tại một trú xứ nào. Gặp sự thuận tiện nơi nào trên đường hành đạo và hóa đạo của mình, thì kiết an cư tại đó. Vì vậy, trước khi thọ pháp an cư Tăng già tại mọi trú xứ thường phải phân chia lại phòng xá cho tỳ kheo. Để cho việc phân chia phòng xá được công bình và hợp lý, Tăng già của mọi trú xứ thường phải tác pháp yết ma cử người phụ trách công tác này. Ngày nay, nhất là tại nước ta, mỗi trú xứ già lam luôn luôn có các tỳ kheo thường trú, và số tỳ kheo này phần lớn nhiều hơn tỳ kheo khách đến an cư, do đó công việc phân chia phòng xá thường được phụ trách bởi tỳ kheo thường trú có trách nhiệm và như vậy, mục đích yết ma cử người phân phòng xá ít khi được thực hiện. Nhưng để tiện tham khảo, dưới đây là văn bạch yết ma này:

Sau khi họp Tăng tại giới trường, vấn đáp tiền phương tiện theo thông lệ, tỳ kheo yết ma bạch Tăng rằng:

Đại đức tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận để cử tỳ kheo… chia phòng xá và ngọa cụ. Đây là lời tác bạch.

Đại đức tăng, xin lắng nghe. Tăng sai tỳ kheo… phân chia phòng xá và ngọa cụ. Các Trưởng lão nào chấp thuận Tăng sai tỳ kheo… phân chia phòng xá và ngọa cụ thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.

Tăng đã chấp thuận, Tăng sai tỳ kheo… phân chia phòng xá và ngọa cụ, vì đã im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

2. Hành trù
Quy tắc hành trù đại khái cũng như trường hợp thuyết giới. Sau phận sư phân chia phòng xá và ngọa cụ là đến việc phát và nhận thẻ để kiểm điểm số người an cư, gồm có tỳ kheo và sa di. Các công việc này đều được thực hiện trước ngày chính thức thọ an cư một ngày. Tức là nếu biết an cư vào ngày 16 tháng 4 thì tác pháp hành trù cần được thực hiện vào ngày 15 tháng đó. pháp hành trù này gồm có yết ma đơn bạch để bố cáo cho Tăng biết việc nhận thẻ, yết ma bạch nhị sai người phát thẻ, và yết ma đơn bạch chính thức phát thẻ, cuối cùng là đơn bạch để bố cáo cho Tăng biết đã phát và thu thẻ, kiểm điểm tăng số tỳ kheo và sa di thọ pháp an cư. Dưới đây là văn yết ma:

a) Đơn bạch nhận thẻ

Sau khi tập họp Tăng, vấn đáp tiền phương tiện xong, vị Thượng tọa pháp chủ bạch tăng.

Đại đức tăng, xin lắng nghe. Tăng nay chuẩn bị tác pháp hạ an cư. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận ngày hôm nay Tăng nhận thẻ, ngày mai kiết hạ an cư. Đây là lời tác bạch.

b) Sai người phát thẻ

Tăng đề cử một hay hai tỳ kheo làm người phát thẻ và thu thẻ. Nếu số tỳ kheo quá đông cần phải cử nhiều, từ 5 hay 6 tỳ kheo trở lên, thì phải tác pháp hai lần, mỗi lần Tăng sai tối đa 3 tỳ kheo trở xuống. Văn bạch yết ma như sau:

Đại đức tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay sai tỳ kheo… vì Tăng hành xá la. Đây là lời tác bạch.

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng sai tỳ kheo… vì Tăng hành xá la. Các trưởng lão nào chấp thuận tăng sai tỳ kheo… vì Tăng hành xá la, thì im lặng. Ai không chấp thuận thì hãy nói.

Tăng đã chấp thuận, Tăng sai tỳ kheo… vì Tăng hành xá la, vì đã im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

c) Đơn bạch phát thẻ

Người thọ sai, sau khi đã được Tăng sai, bạch Tăng trước khi phát và thu thẻ. Văn bạch như sau:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. tôi tỳ kheo… vì Tăng hành xá la. Đây là lời tác bạch.

Bạch Tăng xong, các tỳ kheo thọ sai bưng mâm thẻ đi phát. Theo thứ tự, từ vị Thượng tọa lớn nhất trở xuống. Sa di không dự tác pháp yết ma trong giới trường, do đó tập hợp ở bên ngoài để nhận thẻ. Người nhận thẻ rời khỏi chỗ ngồi, quì và nhận. Tiếp theo, người thọ sai thu thẻ để vào một cái mâm khác. Phát và thu xong, bưng mâm thẻ ra ngoài đếm.

Các luật sư Trung hoa còn thêm rằng, thẻ thứ nhất dâng lên đức Thích ca, kế là Thượng tọa pháp chủ. Người phát thẻ bưng mâm thẻ đem trước bàn Phật, lễ một lễ, rồi đứng dậy, hay dâng thẻ và xướng: "Trung thiên Giáo chủ Thích ca Mâu Ni Phật nhận thẻ thứ nhất.” Người nhận thẻ bưng cái mâm không đi theo, lễ Phật một lễ rồi thu thẻ lại đặt vào mâm không đi theo,thẻ cuối cùng được phát cho Hộ pháp. Người phát thẻ xướng: " An cư Hội thượng Vi Đà Bồ tát nhận thẻ cuối cùng.” Người thu thẻ đi theo thu lại để vào mâm. Việc phát thẻ đến đức Bổn sư và Hộ pháp không thấy nói trong luật bản, mà chỉ thấy nói trong Yết ma chỉ nam. Tính cách hợp pháp của nó cần phải thảo luận nhiều. Ở đây chỉ ghi lại tiện việc tham khảo mà thôi.

Phát thẻ, thu thẻ và đếm thẻ xong, người thọ sai trở lại trước Tăng và bạch:

Nay là năm… kết an cư ba tháng phần đầu của mùa hạ. Gồm (số) tỳ kheo và (số) sa di. Tăng hành xá la đã xong.

3. Bạch an cư
Tác pháp bạch an cư được chia làm hai trường hợp, có khác nhau chút đỉnh, tức tác pháp của hàng Thượng tọa, và tác pháp của đại chúng. Đây là sự ấn định của các luật sư Trung hoa, còn trong các luật bản thì không có sự phân biệt này.

a) Tác pháp của hàng Thượng tọa

Trong đây gồm cả vị pháp chủ, cũng gọi là thuyền chủ, là vị luật sư y chỉ cho đại chúng. Sự khác nhau được phân biệt giữa hàng Thượng tọa và đại chúng là do bởi các Thượng tọa nương trên vị luật sư y chỉ, do đó văn bạch an cư có hơi sai khác.

Theo thứ tự, vị Thượng tọa lớn nhất tác pháp đối thủ thọ an cư với một vị Thượng tọa gần ngang hàng. Cả hai vị hoặc cùng đứng hoặc cùng quì cả. Văn bạch nói như sau:

Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ kheo… nay y nơi (tên trú xứ) tăng già lam an cư ba tháng đầu của mùa hạ. Nếu phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ. (nói ba lần)

Văn bạch trên đây nói theo luật Tứ phần. Các luật khác đại khái giống nhau. Chỉ riêng luật Ma ha tăng kỳ không có câu kết cuối, tức câu "Nếu phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ.” Các luật dù có ghi câu này nhưng không thấy có giải thích. Luật Ma ha tăng kỳ được coi là gần luật bộ nguyên thủy hơn cả. Điều này cho thấy trong lịch sử chế độ Tăng già giữa các bộ phái, phận sự an cư càng về sau càng được giới hạn chặt chẽ. Như đoạn trên đó nhắc đến kinh Chánh pháp niệm xứ, trong đó nói, tỳ kheo an cư ngoài việc đại tiểu tiện ra phải thường xuyên ngồi kiết già tọa thiền chứ không được làm các công việc linh tinh khác. Cũng vậy, giữa các bộ phái, dù các luật không giải thích, người ta cũng thấy có một sự ấn định gần như tương tự. Nhưng nhất định có trường hợp đã xảy ra là trong khi an cư mà thảng phòng xá có hư hại, mà lúc đó lại không có các cư sĩ để làm thay hộ mà các tỳ kheo phải tự mình sửa sang lấy, cho nên qui chế an cư được nới rộng ra một chút bằng câu "nếu phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ" nêu trên.

Sau khi vị Thượng tọa lớn nhất, thường là vị luật sư y chỉ của đại chúng, đã tác pháp thọ an cư xong, lần lượt đến các Thượng tọa, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Mỗi vị đều tác pháp đối thủ với vị Thượng tọa luật sư y chỉ ấy mà thọ an cư.

b) Tác pháp của đại chúng

Theo Phật chế, tại mỗi trú xứ an cư phải có một vị Thượng tọa làm luật sư y chỉ cho đại chúng, để xử trị và nhắc nhở các tỳ kheo chưa thông suốt luật. Vì đại chúng an cư cần phải nương vào luật sư y chỉ, do đó văn bạch có khác với hàng Thượng tọa.

Theo thứ tự lớn nhỏ. Tỳ kheo lớn nhất trong đại chúng bạch an cư trước. Vị này bước ra lễ Thượng tọa y chỉ một lễ rồi quì bạch, văn bạch như sau:

Đại đức nhất tâm niệm. Con tỳ kheo… nay y nơi (nói tên trú xứ) tăng già lam an cư ba tháng đầu của mùa hạ. Nếu phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ.

Thượng tọa nói:

- Vậy hãy cẩn thận chớ buông lung.

Đáp:

- Thọ trì (hay Y giáo phụng hành).

Thượng tọa hỏi tiếp:

- Y vị nào làm luật sư?

- Y (nói hiệu luật sư y chỉ) làm luật sư.

Thượng tọa nói:

- Có điều gì nghi ngờ nên đến hỏi.

- Nhĩ (hay kính vâng).

Trên đây là văn bạch tiền an cư. Nếu là hậu an cư thì cũng vậy, nhưng đổi ba tháng đầu thành ba tháng cuối. Tỳ kheo ni, thức xoa ma na, sa di và sa di ni cũng tác pháp như trên, nhưng đổi các từ xưng hô cho thích hợp. Ngoài cách tăng pháp đối thủ an cư trên, còn có cách tâm niệm an cư.

c) Tâm niệm an cư

Trong trường hợp không có người để ý chỉ hoặc ở một mình tỳ kheo được phép tác pháp tâm niệm an cư. Tỳ kheo ni không được phép sống riêng biệt do đó không có cách tác pháp tâm niệm an cư. Chỉnh trang y hậu, có thể đến trước tượng Phật, quì bạch thành tiếng (không được nói thầm) như sau:

Con tỳ kheo… nay y nơi (nói tên trú xứ) an cư ba tháng đầu (hay cuối) của mùa hạ. (nói ba lần)

Nếu không tác pháp như vậy thì không thành an cư. Nhưng nếu lỡ quên, mà trước đã có chủ ý an cư, thì cũng vẫn thành an cư.

4. Kiết giới
Tại các tăng già lam thông thường phạm vi cương giới của trú xứ đã được tác pháp ấn định. Nếu trú xứ quá nhỏ, mà khi an cư muốn nới rộng hay ngược lại, thì cần phải tác pháp giải cương giới cũ rồi kết lại. Tác pháp kết giới, gồm xướng tiêu tướng, và bạch yết ma, đều đã được nói trong chương II ở trên.

IV. XUẤT GIỚI VÀ PHÁ HẠ
1. Xuất giới tác pháp thọ nhật
Trong thời gian an cư, không được ra khỏi phạm vi của trú xứ, trừ việc đi khất thực. Tuy nhiên, như đã nói, một trong những mục đích của sự an cư là tạo cơ hội để những người Phật tử tại gia có thể gần gũi và phụng sự Tăng. Do đó vì ích lợi của Phật tử tại gia nên mỗi khi họ có thỉnh cầu, tỳ kheo có thể xuất giới, tức ra khỏi phạm vi của trú xứ an cư, không thể đi và về trong một ngày, mà phải ở lại cách đêm. Trong những trường hợp vì duyên sự chính đáng như vậy, có hai thể thức cho phép xuất giới, xuất giới trong thời hạn từ 7 ngày trở lui, và thời hạn từ 7 ngày đến 40 ngày.

a) Xuất giới 7 ngày

Tỳ kheo có duyên sự chính đáng cần xuất giới trong thời hạn 7 ngày trở lại, trước khi xuất giới, phải tác pháp thọ nhật chứ không thể tự tiện đi. Đây là tác pháp đối thủ, không phải bạch Tăng, mà chỉ cần bạch với một tỳ kheo đang an cư trong cùng trú xứ là được. Văn tác bạch như sau:

Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ kheo… nay có duyên sự… xin được xuất giới 7 ngày. Sau khi duyên sự xong, sẽ trở lại đây an cư. Kính mong đại đức chứng tri. (nói ba lần)

Nếu tại trú xứ an cư của mình không có tỳ kheo nào cả, cũng có thể nói với sa di hoặc cư sĩ. Hoặc nếu hoàn toàn không có ai cả, thì chỉ tâm niệm tác pháp. Tỳ kheo xuất giới mà không tác pháp thì được coi là mất hạ.

Sau khi xuất giới, duyên sự xong, trở lại trú xứ an cư, nhưng thời hạn 7 ngày đã hết nhưng việc chưa xong, nếu trở lại trú xứ thì cần tác pháp tàn dạ rồi mới có thể tiếp tục đến chỗ có duyên sự trước đó. Tàn dạ nghĩa là đêm còn dư. Cũng tác pháp đối thủ như khi xuất giới. Văn bạch như sau:

Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ kheo… đã thọ pháp xuất giới bảy ngày, đã hết (số ngày) nhưng duyên sự chưa xong, nay còn lại… đêm. Kính mong Đại đức chứng tri (nói ba lần) (Hành sự sao tư trì ký. Thượng 4 - đại 40, tr. 244c, dẫn Thập tụng. Phép tàn dạ này không thấy trong yết ma bản của các bộ.)

b) Yết ma thọ nhật

Thể thức xin xuất giới trên 7 ngày. Nếu thời hạn cần thiết đủ để hoàn tất duyên sự từ 7 ngày trở lên, và tối đa là 40 ngày, thì cần phải bạch Tăng, sau khi Tăng đã tác pháp yết ma thọ nhật mới được phép xuất giới. Nói là 40 ngày, nhưng thực tế đêm cuối cùng phải có mặt tại trú xứ an cư, do đó thời hạn tối đa là 39 đêm. Thời hạn này không thể vượt qua, vì thời gian ở trong giới cần phải nhiều hơn thời gian ở ngoài. Nếu quá thời hạn này, được coi là phá hạ.

Tỳ kheo muốn xuất giới thỉnh Tăng với túc số là 4 tỳ kheo, vào giới trường để tác pháp. sau khi vấn đáp tiền phương tiện cho yết ma thọ nhật xong, thầy tỳ kheo yết ma bạch:

Đại đức tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận tỳ kheo… thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới trong thời hạn… ngày vì duyên sự… sau đó sẽ trở về an cư. Đây là lời tác bạch.

Đại đức tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo… xin thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới trong thời hạn… ngày, vì duyên sự… sau đó sẽ trở về an cư. Các Trưởng lão nào chấp thuận tỳ kheo… thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới, thời hạn… ngày vì duyên sự… sau đó trở về an cư, thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.

Tăng đã chấp thuận tỳ kheo… được thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới, thời hạn… ngày vì duyên sự.., sau đó trở về an cư, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Tăng đã yết ma thọ nhật xong, tỳ kheo thọ nhật phải rời khỏi trú xứ nội trong một ngày, không được để cách đêm, nếu đã bước chân ra khỏi cương giới của trú xứ, không được phép lùi lại. Nếu lỡ có quên cái gì mà trở vào trú xứ, cần phải thỉnh cầu tăng tác pháp yết ma thọ nhật lại. Cho rồi mới được phép xuất giới.

2. Phá hạ
Phá hạ nghĩa là vi phạm các điều thuộc quy chế an cư mà luật đã thiết định. Chủ yếu của sự phá hạ là rời khỏi trú xứ. Có hai trường hợp phá hạ: hợp pháp và không hợp pháp. Phá hạ không hợp pháp là tự mình bước ra khỏi phạm vi của trú xứ an cư mà không có duyên sự, không có tác pháp đúng pháp.

Trường hợp phá hạ không hợp pháp là do có những tai nạn bất ngờ xảy đến. Hoặc khi thọ nhật xuất giới đã hết hạn, nhưng do các tai nạn xảy đến không thể trở về trú xứ an cư kịp thời hạn; trường hợp này không được kể là phá hạ. Nhưng nếu có tai nạn bắt buộc phải rời khỏi trú xứ an cư, để di chuyển đến một trú xứ khác tiếp tục an cư, trường hợp này cũng không nói là phá hạ. Nếu bị bắt buộc phải rời khỏi trú xứ an cư, nhưng không thể tiếp tục an cư ở bất cứ trú xứ nào khác nữa; đây mới thực sự là phá hạ.

Có tám tai nạn mà tỳ kheo rời khỏi trú xứ được coi là phá hạ hợp pháp. (Tứ phần luật 37 - đại 22, tr. 834a).

1. Nguy hiểm phạm hạnh: tại trú xứ an cư, tỳ kheo có thể bị những người quyền thế ép buộc phá giới; hoặc có những người nữ thường đến quyến rủ phá giới, hoặc cha mẹ, anh em, thân thích thuyết phục phá giới. Để bảo vệ đời sống tu tịnh hạnh, tỳ kheo có thể rời bỏ trú xứ này.

2. Nguy hiểm vì kho tàng: sau khi đã kiết hạ an cư tại một trú xứ nào đó, các tỳ kheo mới biết rằng ở đây có kho tàng; nếu sống tại đây có thể có những điều nguy hiểm xảy ra.

3. Qủy phá hoại: trú xứ an cư của tỳ kheo thường bị ma qủy quấy phá, đe dọa sinh mạng.

4. Rắn độc.

5. Thú dữ.

6. Giặc cướp: cả ba trường hợp đều là những tai nạn nguy hiểm đến sinh mạng.

7. Thiếu thốn các nhu cầu: như ăn uống, thuốc men, hay không có người giúp đỡ.

8. Phá Tăng: Tăng tại trú xứ an cư đang chia rẽ, không hòa hiệp; tỳ kheo không muốn bị lôi cuốn vào sự tranh chấp không thể hòa hiệp, có thể rời bỏ đi nơi khác.

Trong các trường hợp thọ nhật xuất giới và phá hạ được nói trên đây, thì yết ma thọ nhật không áp dụng cho ni, vì tỳ kheo ni không được pháp xuất giới quá bảy ngày. Các trường hợp khác, cũng đồng như tỳ kheo.
Trần Thanh Tín 26/05/2011 09:47:18
Chúng tôi rất đồng tình với ý kiến của Mộng Du.
Bài viết trên đây hình như được cóp nhặt từ nhiều nguốn khác nhau, người viết sắp xếp không mạch lạc, thiếu trước hụt sau làm cho người đọc ngộ nhận rất nhiều vấn đề.
Theo ý chúng tôi, Minh Mẫn không nên viết về những vấn đề thuộc về giới pháp xuất gia. Vì sao? đơn giản là "trăm hay không bằng tay quen", mà chúng ta đâu có quen tay; chúng ta chỉ nghe nói, đọc sách rồi tự hiểu, chúng ta đâu có chiêm nghiệm phải không?
Bài viết này, nếu là chúng tôi thì sẽ đặt tiêu đề khác; ví dụ: "An cư theo tôi hiểu", nói chung đặt tiêu đề theo sự tìm hiểu là tốt hơn cho định nghĩa
Chúc an lạc
Trân trọng
Mộng du 25/05/2011 23:11:00
Gởi Minh Mẫn.
Sách Phật giáo viết, dịch về kiết hạ an cư rất nhiều, mà bài viết "an cư" này lại hết sức cẩu thả, thậm chí chẳng cung cấp gì thêm hiểu biết cho người đọc về an cư một cách tạm được.
Bài viết mang đậm tính suy diễn, cóp nhặt một cách tùy tiện.
Tôi xin chỉ ra mấy cái quan trọng mà người viết cứ diễn đạt, cóp nhặt lung tung.
người viết đã viết như vầy:
"Khi Đức Phật thành đạo, Tăng đoàn còn thô sơ, giới luật chưa áp dụng rộng rãi;"
Tôi chỉnh lại như sau:
"Khi đức Phật thành đạo" phải sửa lại là "sau khi đức Phật thành đạo".
"Tăng đoàn còn thô sơ". Mô Phật, thô sơ theo ý gì? là ít người chăng? là sinh hoạt lung tung, sai quấy bừa bãi chăng?
Trật lất.
Sau khi Phật thành đạo, trong 12 năm đầu, theo luật Tứ phần, thì Phật chưa có chế giới luật chi cả, vì Tăng đoàn hoàn toàn thanh tịnh, chưa có pháp hữu lậu phát sinh. Từ đó, làm gì có chuyện "giới luật chưa áp dụng rộng rãi;"
Người viết đã viết rằng:
"Phải cung đối Tam bảo tác pháp “cấm túc”.
Tôi chỉnh lại như sau:
Ở Một mình, làm gì có Tăng mà đòi "cung đối Tam bảo" để mà "tác pháp cấm túc". Trong giới luật chẳng có cái luật nào được gọi là "tác pháp cấm túc" cả.
vì hoàn cảnh gì đó mà một mình tác pháp an cư, thì đó là "tâm niệm an cư".
Người viết dùng từ ngữ lung tung, lúc thì trường hạ, khi thì Hạ đàn. Mà cái Hạ đàn là cái chi chi vậy?
Cái nực cười nhất là cái đoạn này đây:
"Nhưng ngày nay, một số điểm trường Hạ, ban chức sự không phát huy hết chức năng, biến trường hương thành nơi tiêu cực cả về tu tập lẫn lợi dưỡng."
Phê phán ban chức sự "trường hạ" không phát huy hết khả năng, vì biến "trường hương" thành nơi tiêu cực cả về tu tập lẫn lợi dưỡng.
Trường hạ là sao? trường hương là như thế nào? mà nhồi hai cái lại thành một nhúm tiêu cực đến vậy.
Người viết với khả năng học và đọc sách còn yếu, kém mà lại chọn một đề tài rất quan trọng; nhưng ngỗ ngáo thay, lại có những phê phán hết sức tào lao.
Còn nhiều cái nữa, nhưng tạm chỉ ra 2 chỗ.
kết lại:
Học và đọc sách Phật một cách lười biếng, lại suy diễn, cóp nhặt tùy tiện; thì liệu rằng, nội dung bài viết, cũng như sự phê phán kia đã trúng trật và thấm thía vào đâu.
Minh Mẫn nên viết lại đi.
Trước khi viết, Minh Mẫn hãy đọc và học các tác phẩm sau đây:
- Tứ phần luật.
- Luật Tứ phần hiệp chú
- Yết ma yếu chỉ.
3 tác phẩm trên do Ôn Trí Thủ hoặc dịch hoặc hiệu chú.
Cố gắng học và đọc lại đi.
Với bài viết trên thì nên cho vào con số 0 khổng lồ, cũng có nghĩa đừng vội vã trong sự học và đọc.
hãy viết những gì mà mình hiểu rõ, hiểu chắc.
Nếu Minh Mẫn là đệ tử của tôi, tôi sẽ phải đào tạo kiến thức Phật học lại.
Thôi, cú vậy đi.
chịu khó học lại nhé.
Sai một ly, đi một dặm.
chúc an lạc.
trang PTVN cũng nên trích đăng phần "An cư" và "Tự tứ" trong Yết ma yếu chỉ do Hòa thượng Trí Thủ biên tập, Hòa thượng Đổng Minh - Thượng tọa Tuệ Sỹ hiệp chú, hầu mong, cho người đọc hiểu đúng. Cũng như, giúp Minh Mẫn biết mình sai nghiêm trọng như thế nào trong phần "An cư"
( Ban Biên Tập cũng nên đăng ý kiến này, vì bài viết của Minh Mẫn sai rất nặng, trong khi đó, chủ đề "an cư" lại rất quan trọng)
tổng cộng: 8 | đang hiển thị: 1 - 8
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả
image Minh Mẫn Phật tử, sinh sống tại TP.HCM