Trao đổi về “hiện tượng” Hòa thượng Thích Thông Lạc, kỳ 1
image

Hòa thượng Thích Thích Thông Lạc có nhiều “nhận định” mang tính đảo lộn, phủ định kinh sách, phủ định những pháp môn đã có từ hàng ngàn năm nay. Ngoài ra, HT còn nhận định con người sau khi chết “không có linh hồn”, tất cả các hiện tượng tâm linh, ngoại cảm đều do tưởng uẩn của con người tưởng tượng ra…

Thời gian gần đây, có phật tử khi truy cập trang Chơn Lạc, xem một số đoạn video trên youtube.com, đọc sách, xem băng đĩa CD, VCD…của Hòa thượng (HT) Thích Thông Lạc đã bày tỏ băn khoăn về một số bài giảng, nhận định của HT.

Trong đó có nhiều “nhận định” mang tính đảo lộn, phủ định kinh sách, phủ định những pháp môn đã có từ hàng ngàn năm nay. Ngoài ra, HT còn nhận định con người sau khi chết “không có linh hồn”, tất cả các hiện tượng tâm linh, ngoại cảm đều do tưởng uẩn của con người tưởng tượng ra…

Sau khi đọc, xem các đoạn video, bài giảng và sách của HT Thích Thông Lạc. Chúng tôi nhận thấy, HT đã có cách viết ngắn gọn, rõ ràng, nêu luận cứ cụ thể. Đọc, xem, nghe…các nhận định đó, chúng tôi cũng đồng nhận thức về một số nhận định, luận điểm và lập luận của HT về một số vấn đề.

Ví dụ: Khi nói về loài hoa Vô Ưu, có người đã thần thánh hóa, cho đó là loài hoa hàng ngàn năm mới nở một lần, và lần nào nở, ai thấy được hoa nở thì đó là cơ duyên đặc biệt, hàng ngàn năm mới có.

Bao đời nay, người ta tin như vậy, và gần đây ở Việt Nam cũng đã có nhiều báo dẫn câu chuyện trên và tả cây hoa vô ưu nở ở gia đình một nông dân Trung Quốc như là sự kiện 3000 năm, mới có một lần.

HT Thích Thông Lạc, không tin như vậy, trong quyển sách “Không có linh hồn”, HT có đoạn viết:

Người ta nói đến hoa VÔ ƯU là nói đến sự không buồn phiền, đó là người ta khéo tưởng tượng một đức Phật sinh ra nơi gốc cây VÔ ƯU có nghĩa là một bậc Thánh không còn phiền não.

Bao đời con người cũng hay tưởng tượng một đấng GIÁO CHỦ rồi bịa ra hoa VÔ ƯU để ca ngợi đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một bậc Thánh từ cung Trời Đâu Suất sinh về thế gian nên mới có những hiện tượng hoa VÔ ƯU nở.

Hiện giờ ở Việt Nam người ta trồng cây VÔ ƯU rất nhiều hoa nở liên tục mùa nào cũng có hoa nở. Do đó chứng tỏ người ta khéo ca ngợi đức Phật mà thành dối trá lừa đảo mọi người. Cho nên trên cuộc đời này đừng bao giờ nghe người ta nói mà hãy nhìn rõ mọi việc người ta làm rồi mới có tin.

Khi thấy hoa VÔ ƯU tại đền thờ Phật và đền thờ đức Trần Nhân Tông tại TP Hồ Chí Minh ở Việt Nam mùa nào cũng nở thì người ta lại lý luận Phật Giáo Việt Nam hưng thịnh.

Theo chúng tôi cách đặt vấn đề đó, nhận định riêng về câu chuyện kể trên của HT Thích Thông Lạc hoàn toàn chính xác, không riêng gì HT mà với nhiều nhà nghiên cứu Phật học, các yếu tố mang tính huyền thoại, do người đời vì lòng tôn kính mà truyền tụng cũng cần được làm rõ, tránh cái hiểu màu nhiệm, nặng tính nhân cách hóa, phi thực tế.

Ngoài ra, chúng tôi cùng đồng suy nghĩ với một số nhận định khi HT viết và nhận định về xây dựng nền đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội, mô tả các hiện tượng mê tín, dĩ đoan như cúng, bái, đốt vàng mã, sự lừa lọc của một số “nhà ngoại cảm” về thế giới tâm linh là như thế này, thế kia…sự mê muội, hoang đường của không ít tín ngưỡng, tôn giáo.

Song ở một số nhận định khác, chúng tôi với tri thức nhỏ bé, trình độ Phật học sơ cơ lại có cách hiểu khác với nhận định của HT Thích Thông Lạc. Rất tiếc, các nhận định cơ bản, xuyên suốt tạo nên “hiện tượng” Thích Thông Lạc khi đem đối diện với cách hiểu của chúng tôi lại khác nhau căn bản.

Chúng tôi mạnh dạn trao đổi một số vấn đề mà HT đã nhận định, mà quí đạo hữu đã tin cậy hỏi, “chất vấn”, “tham vấn” chúng tôi xung quanh “hiện tượng” HT Thích Thông Lạc.

Thiết nghĩ, tất cả chỉ trên tinh thần khiêm hạ của những người con Phật. Những điều trao đổi và cách hiểu của chúng tôi, chưa hẳn đã tường minh, là người con Phật, chúng tôi sẵn sàng lắng nghe những chỉ giáo của các bậc cao minh, quí đạo hữu và bạn đọc.

Hỏi: HT. Thích Thông Lạc tự xưng đã chứng Tứ Thiền, Tam Minh, đắc quả vị A La Hán? Như vậy, có đúng không?

Trả lời: Để chứng cho người nào đắc đạo, đắc quả vị nào, Bồ Tát, A La Hán thì phải có Người chứng đắc quả vị cao hơn, chứng (biết) cho người đắc quả vị thấp hơn, trừ trường hợp đặc biệt, Phật chứng quả vị Phật cho tên hiệu của vị Phật khác.

Do vậy, để chứng cho vị nào đắc quả vị A La Hán hay Bồ Tát thì chỉ có những Người đắc quả vị Phật mới chứng được.

Hỏi: HT Thích Thông Lạc cho rằng chỉ có Phật Thích ca là vị Phật duy nhất, có phải đúng tinh thần câu kệ nổi tiếng được Phật sơ sinh tuyên bố khi Ngài đản sinh “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”, có nghĩa là chỉ có đức Phật Thích Ca là duy nhất – độc tôn.

Vậy tại sao, đức Phật Thích Ca lại nói: Ta là chúng sinh đã thành, và các con là chúng sinh sẽ thành”. Có gì mâu thuẫn không?

Với chúng sinh ở trái đất, sau đức Phật Thích ca có ai đắc quả vị Phật không?

Trả lời: Chúng tôi hiểu, bất cứ ai tu theo đúng chính pháp của đức Phật Thích Ca đã chỉ dạy đều có thể trở thành Phật.

Câu “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”, có nghĩa là,  Phật Pháp là Pháp tính chân như của vũ trụ, không do bất cứ ai, một “thượng đế nào” sáng tạo ra. Nó vốn vẫn vậy, không sinh, không diệt. Đức Phật Thích Ca trước khi đắc đạo cũng là chúng sinh như chúng ta muôn một, trải qua vô số kiếp tu hành đã đầu thai xuống trái đất, và tu hành đắc đạo, đắc quả vị Phật.

Thái tử Tất Đạt Đa đã tự mình tu hành đắc đạo, không có thầy chỉ dạy, sau khi giác ngộ nhận thức ra con đường giải thoát, đức Phật đã thành lập tăng đoàn, khai sinh một tôn giáo mới, tôn giáo đó mang tên là đạo Phật.

Sự độc Tôn ở đây là mang ý nghĩa tự nhận biết, ý nghĩa “phát minh”, tự tìm ra quy luật bản thể và tìm ra con đường “giải thoát”. Đức Phật Thích Ca đã tự tu, tự chứng quả nên không bị ảnh hưởng giáo pháp của ngoại đạo, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ một giáo pháp nào có từ trước đó. Giáo Pháp mà đức Phật Thích Ca giác ngộ ra là do Ngài tự “ngộ”.

Các chúng sinh sau thời đức Phật Thích Ca, căn cứ vào những chỉ dạy của đức Phật Thích Ca, tu hành viên mật đều có thể thành Phật, tức là dựa theo giáo pháp mà Ngài đã thấu triệt và chỉ rõ.

Hiểu một cách nôm na, Thái tử Tất Đạt Đa là Người đã “tự” giác ngộ và tự soạn giáo án để chỉ dạy cho chúng sinh con đường tu giải thoát. Còn các đệ tử sau Phật một cơ số X thời gian nhất định, có thể tu thành Phật bởi “giáo án” đã có sẵn ở thế gian do đức Phật Thích Ca soạn. Nên hiểu sự “độc nhất” là như vậy, không phải độc nhất là duy nhất Ngài thành Phật, mà không thể ai khác.

Như vậy, là với chúng sinh sau thời đức Phật hoàn toàn có thể tu thành Phật, nhưng con đường tu không phải do chúng sinh đó tự nhận thức ra bản thể của con đường giải thoát, mà chúng sinh đó tự tu thân – tâm – khẩu theo những lời chỉ dạy của đức Phật Thích Ca để giải thoát khỏi sinh - tử, hòa vào bản thể chân như (vốn không sinh, không diệt, và không có bản quyền riêng của bất cứ ai, Thái tử Tất Đạt Đa sau khi giác ngộ với tên hiệu đức Phật Thích Ca chỉ là một trong hằng hà sa số Phật, Thái tử vì giác ngộ nhận biết được Phật tính của vũ trụ mà thành Phật, chứ không phải Phật tính của vũ trụ là do Phật Thích Ca sáng tạo ra) của vũ trụ.

Hỏi: Trong một số bài giảng, HT Thích Thông Lạc nhận định không có Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, chỉ có Phật Thích Ca. Cũng theo HT Thích Thông Lạc, hình ảnh các vị Phật khác là do tà ma, ngoại đạo dựng lên, không có thật, điều đó có đúng không?

Trả lời:
Chúng tôi có cách hiểu, ngay sau khi đức Phật Thích Ca viên tịch, nhập niết bàn, đạo Phật đã có sự phân hóa và các đệ tử, những người con Phật, và cả những thành phần ngoại đạo đã có những thảo luận, biện giải theo những hướng khác nhau.

Theo chúng tôi, đó là điều bình thường, vì nó thể hiện trình độ nhận thức, giác ngộ và các căn cơ khác nhau của chúng sinh. Không phải đến bây giờ mới tạo nên “hiện tượng” Thích Thông Lạc.

Bản thân phật Pháp vốn không lời, không sinh – không diệt, không đúng – không sai, không bớt cũng chẳng thêm. Nó là một thuộc tính bản thể chân như không thuộc bản quyền của ai theo tư cách sở hữu “gốc”, chỉ có chúng sinh nào có cơ duyên để nhận thức, giác ngộ thấu triệt được mà thôi.

Kể cả khi trước khi đạo Phật ra đời với tư cách một tôn giáo thì Phật – Pháp vốn vẫn vậy, không phải sau khi đức Phật Thích Ca đắc đạo thì mới có Phật Pháp.

Thái tử Tất Đạt Đa sau khi giác ngộ với tên hiệu đức Phật Thích Ca chỉ là một trong hằng hà sa số Phật, Thái tử vì giác ngộ nhận biết được Phật tính của vũ trụ mà thành Phật, chứ không phải Phật tính của vũ trụ là do Phật Thích Ca sáng tạo ra. Phật pháp hiểu theo nghĩa tính từ thì không sinh, không diệt, không có thời gian, không gian…

Sau khi giác ngộ, thấu triệt về Phật Pháp, đức Phật Thích Ca đã hướng dẫn chúng sinh tu tập để cùng nhận biết, giác ngộ và thấu triệt được như Người. Nên tôn giáo mang tên gọi Phật giáo ra đời, Ngài là người sáng lập tôn giáo – đạo Phật, không phải là Người sáng lập Phật Pháp, chính nhờ công đức đó của Ngài mà Phật Pháp có mặt ở thế gian, trong nhận thức của thế gian.

Như vậy, xét riêng ở thế giới Ta bà, nhỏ hơn là cõi Nhân ở trái đất, đức Phật Thích Ca là giáo chủ sáng lập đạo Phật mang tên Phật giáo. Trước đó, một cơ số X thời gian nhất định, về lý thuyết hoàn toàn có thể có một vị Phật khác, và sau này khi Phật Pháp đã “mạt vận” (1) ở thế gian, về mặt lý thuyết có thể lại xuất hiện một vị Phật khác, có sự giác ngộ, thấu triệt để nhận biết được tính bản thể chân như của Phật Pháp để khai sáng cho chúng sinh trong giai đoạn niên đại X + N đó tu tập…

Do vậy, ngoài đức Phật Thích Ca, trong vô thủy vô chung của vũ trụ cả hữu hình lẫn vô hình, cả ở thế giới Ta bà và hằng hà sa số thế giới khác, có vô số vị Phật, không thể và cũng không nên đếm, đo được bằng các con số toán học.   

Còn nữa….mời bạn đọc, đón đọc kỳ II

Kỳ 1 I Kỳ 2 I Kỳ 3

Chú thích:

(1) Mạt vận ở thế gian, tức là chúng sinh, con người đã hiểu sai về chính pháp mà đức Phật Thích Ca đã truyền dạy theo sự giác ngộ, thấy – biết của Ngài. Phật Pháp chỉ mạt vận ở thế gian hoặc trong nhận thức của chúng sinh ở các thế giới khác trong một giai đoạn, một cơ số thời gian nhất định nào đó, bản thân Phật Pháp không sinh, không diệt thì không có mạt vận mà cũng chẵng có hưng thịnh)   

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: trisu@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0945.787577 (Biên tập - Trị sự); 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (21 bài gửi)

hoang minh hung 22/01/2011 13:17:23
Phật Thuyết Kinh Pháp Diệt Tận


Hán dịch: Trích từ sao lục của Tăng Hữu trong bản ghi chép đời Tống, tên người dịch đã bị thất lạc
Việt dịch: Tại gia Bồ-Tát giới Ưu-bà-tắc Nguyên Thuận

Tôi nghe như vầy:
Một thuở nọ, Đức Phật ở tại thành Câu-thi-na. Như Lai trong ba tháng nữa sẽ nhập Niết-bàn. Lúc đó, các vị Tỳ-kheo và chư Bồ-Tát, vô số chúng sanh đến chỗ Phật, đảnh lễ sát đất.

Thế Tôn tĩnh lặng, ngài không nói một lời, ánh hào quang cũng không hiện. Bấy giờ, Hiền giả A-Nan, đảnh lễ và thưa hỏi Phật.

"Bạch Thế Tôn! Từ trước đến nay, bất kỳ lúc nào Thế Tôn thuyết Pháp, cũng đều có vầng hào quang oai nghi tự nhiên xuất hiện. Nhưng nay trong đại chúng, ánh hào quang ấy không hiển hiện nữa. Chắc hẳn, đây phải là do nhân duyên gì? Chúng con mong muốn được nghe nghĩa ý."

Đức Phật vẫn lặng yên không trả lời, như thế cho đến khi thỉnh cầu đến ba lần, lúc đó Đức Phật mới bảo ngài A-Nan:

"Sau khi Ta nhập Niết-bàn, lúc Pháp bắt đầu diệt mất, trong đời ngũ trược ác thế, ma đạo sẽ rất hưng thịnh, ma quỷ sẽ giả làm Sa-môn, phá hoại Đạo của Ta. Chúng mặc quần áo của người thế tục, ưa thích y phục năm màu, mặc áo cà-sa sặc sỡ. Chúng uống rượu, ăn thịt, giết hại chúng sanh, tham đắm mùi vị, không có lòng từ bi, lại thêm sân hận đố kỵ.

Lúc bấy giờ, sẽ có các bậc Bồ-Tát, Bích-chi-phật, A-la-hán, họ tinh tấn tu đức và tôn kính hết thảy. Các ngài lấy nhân ái làm tông hướng, giáo hóa bình đẳng, thương mến người nghèo, lo lắng người già yếu, giúp kẻ khốn cùng. Họ luôn khuyên bảo mọi người thờ phụng, hộ trì Kinh tượng. Với tấm lòng hiền lành, các ngài làm mọi công đức, không làm hại người khác, luôn hy sinh giúp đỡ, không tự lợi, lại nhẫn nhục và hòa nhã.

Nếu có các vị như thế, thì chúng ác ma tỳ kheo đều sanh lòng ganh ghét, phỉ báng bôi nhọ, xua đuổi, trục xuất ra khỏi nơi họ ở. Sau đó, những ác ma này không tu đạo lập đức, chùa tháp bỏ hoang vắng, không người sửa sang, rồi sẽ bị hư hoại. Chúng chỉ tham lam tích chứa tiền tài, không chịu phân phát hay dùng làm vào việc phước đức. Chúng sẽ mua bán nô tỳ để trồng trọt, đốt rừng, giết hại chúng sanh, không có một chút lòng từ bi.

Sau đó, những nam nô sẽ thành Tỳ-kheo, những nữ tỳ sẽ thành Tỳ-kheo-ni. Chúng không có đạo đức, dâm loạn ô uế, nam nữ không cách biệt. Chính những kẻ này sẽ làm Đạo suy yếu phai mờ đi.

Hoặc có kẻ chạy trốn luật pháp, chúng sẽ nương dựa vào Đạo của Ta, xin làm Sa-môn nhưng không tu giới luật. Giữa tháng và cuối tháng tuy có tụng giới luật nhưng chỉ là trên danh nghĩa. Do vì chán ghét, lại lười biếng giải đãi nên không còn muốn nghe nữa.

Chúng không muốn tụng toàn bản văn mà chỉ tóm lược phần đầu đoạn cuối. Chẳng bao lâu, việc học Kinh và tụng niệm cũng sẽ chấm dứt. Cho dù còn có người đọc tụng, nhưng họ không hiểu nghĩa ý của câu văn, cưỡng ép ngôn từ, lại không hỏi các bậc minh sư, cống cao ngã mạng, cầu danh cầu lợi, làm ra vẻ tao nhã vẻ vang, để mong được người cúng dường.

Khi những ma tăng này mạng chung, thần thức của những kẻ ấy liền đọa vào vô gián địa ngục. Vì đã phạm phải năm tội ngỗ nghịch, nên sẽ trải qua hằng hà sa số kiếp để sinh làm ngạ quỷ, súc sanh. Khi tội báo đã hết, lại sanh ra ở vùng biên địa, nơi không có Tam Bảo.

Khi Pháp sắp bị diệt, người nữ sẽ trở nên tinh tấn, luôn làm các việc công đức, còn người nam thì biếng lười và không còn giảng Pháp. Những vị Sa-môn sẽ bị xem như phân như đất và không còn ai tin tưởng họ nữa.

Khi Pháp sắp bị mất, chư thiên khóc lóc, bão lụt hạn hán thất thường, năm loại ngũ cốc sẽ không còn chín. Bệnh dịch lây lan, giết đi vô số sinh mạng. Dân chúng lầm than, quan chức mưu toan tính lợi. Ai nấy đều không thuận theo đạo lý, ưa thích nhiễu loạn. Kẻ xấu ác gia tăng nhiều như cát trong biển, người thiện rất hiếm hoi, hầu như chỉ được một hoặc hai người.

Khi kiếp sắp hết, vòng quay của mặt trời và mặt trăng trở nên ngắn hơn, thọ mạng của loài người lại giảm đi, 40 tuổi thì đầu bạc. Người nam dâm dục quá độ, tinh dịch cạn kiệt nên chết sớm, hoặc chỉ sống đến 60 tuổi. Trong khi tuổi thọ của người nam giảm thì tuổi thọ của người nữ gia tăng đến 70, 80, 90, hoặc đến 100 tuổi.

Nước lớn hốt nhiên khởi lên, kéo dài đến vô hạn kỳ, người đời không tin và xem là việc thường. Các loại chúng sanh hỗn tạp, không phân sang hèn quý tiện, bị chết đuối, chìm đắm nổi trôi, và bị cá rùa ăn nuốt.

Khi đó, các bậc Bồ-Tát, Bích-chi-phật, A-la-hán, bị chúng ma xua đuổi, trục xuất và không còn tham dự trong hội chúng nữa. Giáo Pháp của Tam Thừa sẽ lánh vào nơi núi rừng phước đức. Trong yên tĩnh, họ sẽ tìm được sự an vui, tuổi thọ thêm lâu dài. Chư thiên hộ vệ và Nguyệt Quang (1) sẽ xuất thế. Các ngài lại gặp nhau và cùng chấn hưng Đạo của Ta.

Nhưng trong 52 năm, Kinh Thủ Lăng Nghiêm và Kinh Bát-chu Tam-muội sẽ bị sửa đổi trước tiên rồi sau đó diệt mất. 12 bộ Kinh cũng từ từ biến mất và không bao giờ xuất hiện lại, văn tự cũng không còn thấy nữa, áo cà-sa của Sa-môn sẽ tự nhiên biến thành màu trắng.

Khi Pháp của Ta diệt mất, ví như ngọn đèn dầu bừng sáng lên trong chốc lát rồi tắt mất. Khi Pháp của Ta diệt mất, thì cũng như ngọn đèn đã tắt. Từ đó về sau, khó mà nói chắc điều gì sẽ xảy ra.

Như vậy cho đến mười triệu năm sau. Khi Đức Di-lặc sắp hạ sanh ở thế gian để làm Phật, thiên hạ thái bình, độc khí tiêu trừ, mưa thấm nhuần điều hòa, năm loại ngũ cốc tươi tốt, cây cối to lớn. Loài người sẽ cao đến tám trượng và sống đến 84.000 năm. Chúng sanh được độ thoát nhiều không thể tính đếm kể."

Lúc bấy giờ, Hiền giả A-Nan, đảnh lễ và thưa hỏi Phật.
"Bạch Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì, và chúng con phải phụng trì như thế nào?"

Đức Phật bảo:
"Này A-Nan, Kinh này tên là Pháp Diệt Tận. Hãy lưu truyền rộng rãi, công đức có được sẽ nhiều vô lượng không thể tính kể."

Khi bốn chúng đệ tử nghe kinh này xong, lòng buồn bã và thương xót thảm thiết. Tất cả đều phát tâm tu Thánh Đạo Vô Thượng, họ đảnh lễ Đức Phật rồi lui ra.

Phật Thuyết Kinh Pháp Diệt Tận
Huệ Quang 26/12/2010 14:25:39
Có linh hồn hay không có quan trong không?

Đạo Phật là đạo diệt khổ.Pháp chính yếu của Phật dạy là hành theo Bát chánh Đạo và hiểu theo Tứ diệu đế. Trong kinh Phật có nói đến thân trung ấm, nói đến ngạ quỷ ,nói đến 36 tầng trời-từ trời thiểu dục cho đến trời Phạm Thiên.Khi chưa có chư đệ tử chứng đắc thiên nhãn ngài không hề nói đến ngạ Quỷ khi có đệ tử chứng thiên nhản và thấy ngạ quỷ hỏi Ngài mới noí nguyên nhân bị đọa làm ngạ Quỷ.Người thấy thì nói có người không thấy thì nói không. Ai đúng ai sai, ai đạo cao ai đạo thấp, ai chứng a la hán, ai chỉ tư duy đơn thuần. Theo tôi nghĩ đủ đệ làm quý đồng đạo và Phật tử thấy rò.Việc chẩn tế chay đàn đem lại lợi ít cho người sống lẫn người chết tại những nơi có nhiều người chết do chiến tranh, thiên tai đem lại lợi ít bình an cho người sống rất rỏ rêt tại những nơi đó
Khang 23/12/2010 01:17:56
Tôi nhận thấy là sư Thích Thông Lạc có danh xưng là Truởng Lão, đây là truyền thống của Nam tông.
tran ao nhan 22/12/2010 20:12:02
Không biết thầy Thông Lạc trở thành HT khi nào nữa. bởi theo luật định phải 40 tuổi Đạo mới được tấn phong, nhưng Thầy là đệ tử bị từ bỏ của HT Thích Thanh Từ thì như vậy thầy thông lạc chưa đủ tuổi hạ để xứng đáng trở thành HT , nếu tự xưng thì lại lợi dụng rồi nên đề nghị với Giáo Hội nên có văn bản với vấn đề này
Nguyen 21/12/2010 20:32:26
TÌNH CỜ XEM TRÊN BLOG NHỮNG DÒNG CHỮ MÀ ĐỆ TỬ HT THÔNG LẠC GHI LẠI VỀ THẦY CỦA MÌNH:
...Thấu hiểu nỗi lòng đó, Trưởng lão khuyên chúng tôi nên làm tròn bổn phận của mình với gia đình, rồi chừng "hai mươi năm nữa, khi con cái trưởng thành, các con vào đây tu cũng chưa muộn. Thầy còn sống đây, có chết đâu mà các con sợ. Thầy còn mang nợ các con, nên phải dìu dắt các con đi, chứ các con đang tu mà nửa chừng thầy chết thì biết làm sao, không lẽ để các con ra mả thầy mà bắt đền. Thầy còn phải đào tạo thêm được vài A la hán nữa mới có thể ra đi.."
Nguyễn Hoàng Quân 20/12/2010 10:02:41
Sống mà không có giáo lý chân thiện, không có tôn giáo, không có tiềm tin vào những nơi mình gửi gắm.Thì cuộc sống sẽ ra sao?Con người trở nên vô cảm, lạnh nhạt, không sợ trời, không sợ đất.Thì thử hỏi hậu quả sẽ như thế nào?
Hà Nội 20/12/2010 00:24:12
Hãy nói những gì khi ta không dính mắc ,và suy đoán sau lời nói đó có hậu quả gì ,viêc bàn luận nên nghe Minh Thạnh trả lời ,không nên gay găt quá ,mà ta hong tâm trở thành SÂN ,với lại ta cũng không nên cứ tin vào linh hồn ,ma tà mà cho các thầy cúng lễ mãi ,làm khổ người dân mê muội ,việc còn nhiều thầy cúng Mông sơn ,vàng mã sao các bạn không chia sẻ ,hãy mang những giới đức làm người để ta hòa quyện giáo dục cho một thế hệ mới ,không còn theo tiếng hán nữa ,mà HT Thích Minh Châu đã dịch cho ta một kho tàng quí báu của Đứuc phật để lại.
PA 18/12/2010 23:01:32
Phật Giáo là tinh hoa của con người. Tứ Diệu Đế là chân lý của con người. Ai hiểu bốn chân lý này thì đã tìm thấy sự giải thoát trong kiếp này. Do vậy đạo Phật rất thiết thực và thực tế.

Đức Phật chỉ dạy cho con người tự lực cứu mình để thoát khỏi Nhân Quả. Do vậy ai có lòng tự tin thì kiếp này sẽ giải thoát. Không cần phải nhiều đời nhiều kiếp.
Hoa Khai 18/12/2010 20:38:10
8 vạn 4 ngàn pháp môn...Thực hành pháp môn nào mang lại hạnh phúc, an lạc cho mình và cho người thì hành trì thôi...Đức Phật đâu nói chỉ có duy nhất một pháp môn để đến Niết Bàn đâu... Pháp môn chỉ là ngón tay chỉ trăng, khi thấy trăng rồi cần gì tay nữa
Trần Nguyên Dung 18/12/2010 20:34:29
Mô Phật.Mong sao các vị chức sắc trong giáo hội có cái nhìn kiên định và đưa ra giáo luật nghiêm khắc.Muốn phát hành băng đĩa hay giảng một buổi Phật pháp nào phải có được sự cho phép và kiểm duyệt bài giảng của các cấp giáo hội.
NGUYỄN HOÀNG HUY 18/12/2010 20:24:43
Một tôn giáo ra đời, thì giáo lý là phần quan trọng, dẫn dắt hàng đệ tử tôn thờ và tín tâm.Nên chăng các vị chức trong giáo hội nên có kiên định.Không để tà giáo, những người đội lốt tôn giáo tu hành lợi dụng.Nên trục xuất ra khỏi giáo hội.Và có lẽ giáo hội ta phải có một bộ phận chuyên kiểm duyệt băng đĩa giảng Phật pháp thật nghiêm khắc trước khi phát hành truyền tới tay các hàng Phật tử. Để ánh sáng Phật pháp đúng nghĩa soi sáng cho những người sơ cơ mới bước vào Phật pháp.Giúp họ hiểu sâu hơn về Phật pháp như vậy mới không bị lung lay tín tâm.Và tà đạo dụ dỗ.Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Hoa Đức 18/12/2010 12:26:59
Đối với các vị hòa thượng tu chứng đắc quả vị không bao giờ nói ra, hay Bồ Tát, Phật tái sinh thì con người không ai biết được ngay cả các vị hòa thượng đạo hạnh cao thâm. Bởi thế mới nói "thấy mà không biết, biết thì không thấy".
Tuệ Hãi 18/12/2010 11:12:52
Theo tôi được biết thì cây Vô-ưu tiếng anh gọi là fig tree (cây sung) , điểm đặc biệt của cây sung là nhân quả đồng thời, không có bông mà trực tiếp có quả, trong chùa Ấn Quang khi xưa cây sung trong chùa tự nhiên có hoa, là điều chưa từng có, rất nhiều người tới xem, sau đó cạnh chùa sanh Thầy Minh Phát, một Nhân vật kỳ lạ như huyền thoại, nay thầy đã tịch rồi, nếu ai muốn hỏi thêm chi tiết thì hỏi cụ Tr1 Quang thì rõ...
Đạo Quang 18/12/2010 11:00:36
"Nhược phàm phu tự ngôn chứng thánh,... giai đại vọng ngữ, kỳ tội cực trọng": Tự nói mình chứng này, nọ, kia chính là phàm nên tội rất nặng. Còn bài kệ: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn, vô lượng sinh tử ư kim tận hỷ" là khi chứng đạo quả, đức Phật chỉ cho chúng ta biết động cơ trôi lăn trong 3 cõi, sáu đường (địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, a tu la, người, trời=thiên thượng thiên hạ) là do mầm chấp ngã ở trong tâm thức (duy ngã độc tôn. Cũng từ nơi cái tình thức ấy mà Ngài trôi lăn trong vô lượng sinh tử. Nay Ngài đã giác ngộ, nên cái tình thức ấy chấm dứt(giác hữu tình) nên Ngài nói: sinh đã tận, lậu đã tận, gánh nặng của vọng tâm sinh diệt đã để xuống, từ nay không còn trở lại sinh tử nữa(vô lượng sinh tử ư kim tận hỷ). Chứ không phải: "Trên trời dưới trời, ta là hơn hết, hay ta là độc tôn, không có Phật thứ hai, thứ ba.Đừng hiểu vậy mà hàm oan cho đức Phật. Chỉ có một điều là trong hiện kiếp, do nương nơi pháp mà đức Phật Thích Ca đã tìm ra và chỉ cho mà tu chứng, nên chứng sau đức Phật thì gọi là Tổ, vậy thôi.
Hoang Tri 17/12/2010 23:21:33
Đức Lão Tử nói rằng: "Ngôn giả bất tri, tri giả bất ngôn" nghĩa là người nói không biết, người biết không nói. Chuyện những người tự xưng chứng đắc này nọ cũng thường xảy ra như Vô Thượng Sư Thanh Hải hay các ông đạo ở vùng sông nước Cửu Long...
Nếu quả thực chứng đắc thì hãy hiển lộ thần thông cho đại chúng tâm phục. Khi ngài A Nan vì sự khích tướng của ngài Ca Diếp đã đắc quả trong thời gian ngắn, thế nhưng ngài Ca Diếp vẫn bắt ngài A Nan chứng minh bằng thấn thông trước khi cho tham dự vào cuộc kết tập kinh điển của chư thánh tăng.
Đức Đạt Lai Lạt Ma được nhân dân Tây Tạng tôn kính là hóa thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng Ngài lúc nào cũng khiêm hạ chỉ nhận mình là ông thầy tu quê mùa. Có một điều đặc biệt là những ai được gần Ngài đều cảm nhận được sự an lạc vô biên tỏa ra từ năng lượng từ bi nơi Ngài. Sự hành xử của Ngài đã khiến cho mọi người tôn kính không chỉ riêng Tây Tạng nhưng mọi người trên thế giới bất phân tôn giáo.
Thế còn thầy Thông Lạc thì sao? Những ai đọc bài của thầy, nghe thầy giảng đều cảm nhận sự hoang mang, phiền não!
Thầy tuy xuất thân từ thiền tông, đệ tử bị khai trừ của Hòa Thượng Thích Thanh Từ, nhưng không hiểu thế nào là "ý tại ngôn ngoại" và "Bồ Đề bổn vô thọ"; lại đem những chuyên "cây Vô Ưu" ra thắc mắc.
Những việc phủ nhận kinh điển, pháp tu của thầy có được từ khi đi Ấn Độ đọc những sách của những người nặng tinh thần cố chấp Tiểu Thừa viết ra. Thầy không chịu nghiên cứu, tìm hiểu vội vàng ôm lấy, tưởng đó là chân lý, đem phổ biến ra để thể hiện tính cách lập dị và mạo nhận đó là khám phá của mình.
Chuyện phàm phu tự xưng chứng thánh quả và phê phán vô căn cứ là sự vi phạm trầm trọng giới "VỌNG NGỮ". Trong Luật Phật, người nào vi phạm giới này phải bị trục xuất ra khỏi tăng đoàn.
Lâu nay quý thầy biết chuyện của HT Thông Lạc, nhưng mọi người dùng phương pháp "mặc tẩn" (im lặng tẩy chay). Thế nhưng HT Thông Lạc vẫn làm rối loạn tín tâm của Phật tử.
hue minh 17/12/2010 19:17:48
Hòa thượng Thích Thích Thông Lạc có nhiều “nhận định” mang tính đảo lộn, phủ định kinh sách, phủ định những pháp môn đã có từ hàng ngàn năm nay. Ngoài ra, HT còn nhận định con người sau khi chết “không có linh hồn”, tất cả các hiện tượng tâm linh, ngoại cảm đều do tưởng uẩn của con người tưởng tượng ra…
Như vậy ý nói trung tâm tiền năng con người đang bị những nhà ngoại cảm lừa gạt sao? thật là khó hiểu với những lời phát ngôn của HT TTL này quá
andraw 17/12/2010 19:11:57
ranh giới giữa ngoại đạo và chánh đạo rất mong manh. Rất mong quý bạn hữu hãy có những lời cầu nguyện để đc gia hộ
Bạch Tầm Xuân 17/12/2010 17:36:17
Trích đoạn bài thuyết giảng "Đức Phật của chúng ta" của HT Thích Minh Châu:


Kinh Tăng Chi Bộ Kinh tập I, trang 37 ghi chép: "Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ kheo, không có được trong một thế giới có hai vị A la hán Chánh đẳng giác, không trước không sau, xuất hiện một lần. Sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo. Trong một thế giới, chỉ có một vị A la hán Chánh đẳng giác, xuất hiện, sự kiện này có xảy ra".

Như vậy, chúng ta có thể nói, trong hiền kiếp hiện tại, tại thế giới này, chỉ có một Đức Phật, không có hai Đức Phật, có thể có 6 Đức Phật quá khứ như Đức Phật Tỳ Bà Thi, Đức Phật Thi Khi v.v... nhưng thuộc vào kiếp quá khứ, không thuộc kiếp hiện tại; và có đức Phật Di Lặc (Maitriya), nhưng thuộc vào kiếp tương lai, không thuộc kiếp hiện tại. Như vậy vị trí của Đức Phật, Thích Ca Mâu Ni thật là độc nhất vô nhị, ngay trong tiền kiếp của thời hiện đại của chúng ta, và ở trong thế giới mà hiện chúng ta đang sống. Từ nơi vị trí Phật độc nhất vô nhị này, Kinh Tăng Chi Bộ Kinh tập I trang 29 nói rõ thêm:

"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có đặt ngang hàng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A la hán, Chánh Đẳng giác; một người này khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tự, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng bậc Tối thắng giữa các loài hai chân".

Nguồn: http://www.phattuvietnam.net/nghiencuu/41.html
Le 17/12/2010 16:36:04
Đối với một A La Hán thì: "Sinh tử đã tận phạm hạnh đã thành. Những việc cần làm đã làm xong, không còn phải làm gì nữa."
Nếu trưởng lảo Thông Lạc đã thành A La Hán rồi thì đừng nên cho làm gì nữa.
Andrew 17/12/2010 15:45:38
Cảm ơn bạn Hue Nghiêm đã gửi cho đoạn khai thị thật hay của HT Tuyên Hóa.
1 2 next tổng cộng: 21 | đang hiển thị: 1 - 20
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả