Hòa thượng Thích Nhất Hạnh dịch lại Tâm Kinh Bát Nhã
image

Giới thiệu : Tâm kinh Tuệ Giác Qua Bờ là tên và kinh văn mới của kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa thường gọi là Bát Nhã Tâm Kinh, hoặc đơn giản hai chữ Tâm Kinh vừa được Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch lại và hoàn tất mà theo Ngài là vào khoảng ba giờ khuya ngày 21.08.2014 tại Viện Vô Ưu - Đức quốc. Trong một lá thư gửi cho học trò, và đệ tử 4 chúng khắp nơi trên thế giới Ngài đã lý giải rất tường tận về Lý do tại sao phải dịch lại kinh văn này.

Thiền Sư nói với đệ tử của ngài rằng :  ... Sở dĩ Thầy phải dịch lại Tâm kinh, vì vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã không đủ khéo léo trong khi sử dụng ngôn từ; do đó, đã gây ra nhiều hiểu lầm qua các thời đại. (...) Thầy chỉ hơi tiếc là vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã không thêm vào bốn chữ không có, không không ngay sau bốn chữ không sinh, không diệt mà thôi. Bởi vì bốn chữ ấy có thể giúp người thoát khỏi ý niệm có và không, và người ta sẽ không còn dễ bị kẹt vào những cái như “không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi…”

Kinh văn mới cùng với lá thư lý giải tại sao phải dịch lại Kinh này đã phổ biến lần đầu tiên trên trang nhà Làng Mai ngay tức khắc đã có hơn 2200 thành viên facebook ưa tích. Sau đây là Minh giải của Thiền Sư về Lý do tại sao phải dịch lại Tâm Kinh. Tiếp theo là kinh văn trường hàng, kế đến là kinh văn theo kệ tụng 5 chữ. Và sau cùng là kinh văn tiếng Anh.

Tâm kinh Tuệ Giác Qua Bờ

Lý do tại sao phải dịch lại Tâm Kinh?

Các con của Thầy,

Sở dĩ Thầy phải dịch lại Tâm kinh, vì vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã không đủ khéo léo trong khi sử dụng ngôn từ; do đó, đã gây ra nhiều hiểu lầm qua các thời đại.

Thầy muốn kể cho các con nghe hai câu chuyện: câu chuyện của một vị sa-di tới tham vấn một thiền sư và câu chuyện một thầy khất sĩ tới tham vấn Tuệ Trung Thượng Sĩ.

1. Chuyện của một vị sa-di tới tham vấn một thiền sư

Vị thiền sư hỏi chú sa-di:

- Con hiểu Tâm kinh như thế nào, nói cho Thầy nghe đi.

Chú sa-di chắp tay đáp:

- Con học được rằng, tất cả năm uẩn đều là không. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp; không có sáu thức, mười tám giới cũng không có, mười hai nhân duyên cũng không có, mà cả tuệ giác và chứng đắc cũng không có.

- Con có tin vào lời kinh ấy không?

- Dạ con rất tin vào lời kinh.

Thiền sư bảo:

- Con xích lại gần thầy đây.

Khi chú sa-di xích lại gần, vị thiền sư liền dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ của mình nắm lấy cái mũi của chú sa-di và vặn một cái mạnh. Chú sa-di đau quá la lên:

- Thầy ơi, thầy làm con đau quá!

Vị thiền sư nhìn chú và hỏi:

- Vừa rồi chú nói rằng không có mũi. Nếu không có mũi thì cái gì đau vậy?

2. Chuyện một thầy khất sĩ tới tham vấn Tuệ Trung Thượng Sĩ

Tuệ Trung Thượng Sĩ là một vị thiền sư cư sĩ, đã từng làm y chỉ sư cho vua Trần Nhân Tông hồi vua còn nhỏ tuổi. Hôm ấy, có một thầy tỳ-kheo tới hỏi ngài về Tâm kinh:

- Bạch Thượng Sĩ, hình hài chính là cái không, cái không chính là hình hài, câu này có nghĩa gì?

Ban đầu, Thượng Sĩ im lặng. Sau đó, Thượng Sĩ hỏi:

- Thầy có hình hài không?

- Dạ có.

- Vậy thì tại sao lại nói hình hài là không?

Thượng sĩ hỏi tiếp:

- Thầy có thấy trong cái không gian trống rỗng kia, có cái hình hài không?

- Dạ con không thấy có.

- Vậy thì tại sao lại nói cái không tức là hình hài?

Vị khất sĩ đứng lên xá và đi ra. Nhưng thầy bị Thượng Sĩ gọi lại và đọc cho nghe bài kệ sau đây:

“Sắc tức thị không, không tức thị sắc,

Chư Bụt ba đời tạm thời bày đặt.

Không chẳng phải sắc, sắc chẳng phải không,

Thể tính sáng trong không hề còn mất.”

Căn cứ vào câu chuyện này, ta thấy Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói ngược lại với Tâm kinh và đã động tới cái công thức “sắc tức thị không, không tức thị sắc” linh thiêng, bất khả xâm phạm của nền văn học Bát-nhã.

Thầy thấy Thượng Sĩ đã đi quá đà. Thượng sĩ chưa thấy được rằng cái lỗi không nằm ở công thức“sắc tức thị không” mà nằm ở chỗ vụng về nơi câu “Thị cố không trung vô sắc”. Cách dùng chữ của Tâm kinh Bát-nhã ngay từ câu đầu cho đến câu: “không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt”, theo Thầy đã là tuyệt hảo. Thầy chỉ hơi tiếc là vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã không thêm vào bốn chữ không có, không không ngay sau bốn chữ không sinh, không diệtmà thôi. Bởi vì bốn chữ ấy có thể giúp người thoát khỏi ý niệm có và không, và người ta sẽ không còn dễ bị kẹt vào những cái như “không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi…” Cái mũi của chú sa-di đến bây giờ vẫn còn đỏ, các con thấy không?

Vấn đề bắt đầu từ câu kinh: “Này Śāriputra, vì thế mà trong cái không, không có hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức” (tiếng Phạn: Tasmāc śāriputra śūnyatayāṃ na rūpaṃ na vedanā na saṃjñā na saṃskārāḥ na vijñānam). Ô hay! Vừa nói ở trên là cái không chính là hình hài, và hình hài chính là cái không, mà bây giờ lại nói ngược lại: Chỉ có cái không, không có hình hài.Câu kinh này có thể đưa tới những hiểu lầm tai hại: Nó bốc tất cả các pháp ra khỏi phạm trù hữu và đặt chúng vào trong phạm trù vô (vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức…). Trong khi đó, thực tính của vạn pháp là không hữu cũng không vô, không sinh cũng không diệt. Kiến chấp hữu là một biên kiến. Kiến chấp vô là một biên kiến khác. Cái mũi của sư chú còn đau tới bây giờ là vì sự vụng về này. Cho đến bài kệ kiến giải tương truyền là của tổ Huệ Năng cũng bị kẹt vào ý niệm vô đó: “bản lai vô nhất vật!”:

“Cây bồ đề vốn chưa bao giờ từng có

Đài gương sáng cũng vậy

Từ xưa nay, chưa thực sự có một cái gì

Vậy thử hỏi bụi bặm có chỗ nào để bám?”

Thật là:

“Một áng mây qua che cửa động

Bao nhiêu chim chóc lạc đường về.”

Tuệ giác Bát nhã là thứ tuệ giác siêu việt giúp chúng ta vượt thoát mọi cặp ý niệm đối lập như sinh diệt, có không, nhiễm tịnh, thêm bớt, chủ thể đối tượng, v.v... và tiếp xúc được với thực tại bất sinh bất diệt, phi hữu phi vô, v.v... : thực tại này chính là thực tính của vạn pháp. Đó là trạng thái của sự mát mẻ, lắng dịu, bình an, vô úy, có thể chứng nghiệm được ngay trong đời sống hiện tại với hình thể năm uẩn của mình. Đó là nirvāna. “Chim chóc ưa trời mây, hươu nai ưa đồng quê, các bậc thức giả ưa rong chơi nơi niết bàn.” Đây là một câu rất hay trong phẩm Nê Hoàn của Kinh Pháp Cú trong tạng kinh chữ Hán.

Tuệ giác Bát nhã là sự thật tuyệt đối, là thắng nghĩa đế, vượt lên trên mọi sự thật ước lệ. Nó là cái thấy cao nhất của Bụt. Những đoạn kinh nào trong Đại Tạng, dù là trong các bộ Kinh Bát Nhã đồ sộ, nếu không phản chiếu được tinh thần trên, thì đều còn nằm trong bình diện sự thật ước lệ, chưa phải là đệ nhất nghĩa đế. Rủi thay, ngay trong Tâm Kinh, ta cũng thấy có một đoạn khá dài như thế.

Cũng vì vậy mà trong bản dịch mới này, Thầy đã đổi luôn cách dùng chữ trong nguyên văn tiếng Phạn và bản dịch chữ Hán của thầy Huyền Trang. Thầy dịch: “Chính vì vậy mà trong cái không, năm uẩn là hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức đều không có mặt như những thực tại riêng biệt”,(They do not exist as separate entities). Các pháp từ duyên khởi mà biểu hiện, không có tự tính riêng biệt, không thể tự riêng mình có mặt; đó là điều kinh Bát-nhã muốn tuyên giải. “Cả tuệ giác và chứng đắc cũng không có mặt như những gì riêng biệt.” Câu kinh này cũng sâu sắc không kém gì câu “sắc tức thị không”. Thầy cũng đã thêm vào bốn chữ không có, không không vào sau bốn chữ không sinh, không diệt“Không có, không không” là tuệ giác siêu việt của Bụt trong kinh Kātyāyana (Ca Chiên Diên), khi Bụt đưa ra một định nghĩa về chánh kiến. Bốn chữ này sẽ giúp cho các thế hệ sa-di tương lai không còn bị đau lỗ mũi.

Tâm kinh Bát-nhã có chủ ý muốn giúp cho Hữu Bộ (Sarvāstivāda) buông bỏ chủ trương ngã không pháp hữu (không có ngã, mà chỉ có pháp). Chủ trương sâu sắc của Bát-nhã thật ra là để xiển dương tuệ giác ngã không (ātma sūnyatā) và pháp không (dharma sūnyatā) chứ không phải là ngã vô và pháp vô. Bụt đã dạy trong kinh Kātyāyana rằng phần lớn người đời đều bị kẹt vào ý niệm hữu hoặc vô. Câu kinh: “Chính vì vậy mà trong cái không, không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức…” rõ ràng là đang bị kẹt vào ý niệm vô, cho nên câu kinh ấy không phải là một câu kinh liễu nghĩa. Ngã không (ātma sūnyatā) chỉ có nghĩa là sự trống rỗng của cái ngã, mà không phải là sự vắng mặt của một cái ngã, cũng như chiếc bong bóng trống rỗng bên trong chứ không phải là không có chiếc bong bóng. Pháp không (dharma sūnyatā) cũng thế, nó chỉ có nghĩa là sự trống rỗng của các pháp mà không phải là sự vắng mặt của các pháp, cũng như bông hoa chỉ được làm bằng những yếu tố không phải hoa chứ không phải là bông hoa đang không có mặt.

Tâm kinh Bát-nhã ra đời muộn khi tín ngưỡng mật giáo đã bắt đầu thịnh hành. Vị tổ sư biên tập Tâm kinh đã muốn tín đồ Mật giáo đọc tụng Tâm kinh, nên trong đoạn cuối đã trình bày Tâm kinh như một linh chú. Đây cũng là một phương tiện quyền xảo. Thầy sử dụng cụm từ “tuệ giác qua bờ”, vì trong câu linh chú ấy có từ pāragate có nghĩa là qua tới bờ bên kia, bờ của trí tuệ. Pārāyana cũng như Pāramitā đều được dịch là Đáo Bỉ Ngạn. Trong Kinh Tập (Sutta Nipāta), có một kinh gọi là Pārāyana được dịch là đáo bỉ ngạn, qua tới bờ bên kia.

Chúc các con tập tụng bản dịch mới cho hay. Mình đã có bản dịch tiếng Anh rồi và thầy Pháp Linh đang phổ nhạc mới. Thế nào trong ấn bản mới của Nhật Tụng Thiền Môn, ta cũng đưa bản dịch mới này vào. Hôm qua dịch xong, có một ánh trăng đi vào trong phòng Thầy. Đó là khoảng ba giờ khuya ngày 21.08.2014.

Viết tại Viện Vô Ưu, Waldbrӧl,

Thầy của các con, thương và tin cậy.

Kinh văn Tâm Kinh mới bằng văn trường hàng:

Tâm kinh Tuệ Giác Qua Bờ

Bồ-tát Avalokiteśvara, trong khi quán chiếu sâu sắc với tuệ giác qua bờ, bỗng khám phá ra rằng tất cả năm uẩn đều trống rỗng, tất cả đều là cái không. Giác ngộ điều ấy xong, bồ-tát vượt qua được mọi khổ đau ách nạn.

“Này Śāriputra, hình hài này chính là cái không và cái không cũng chính là hình hài này. Hình hài này không phải là một cái gì khác với cái không và cái không cũng không phải là một cái gì khác với hình hài này. Điều này cũng đúng với các cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức.

“Này Śāriputra, tất cả mọi hiện tượng đều mang theo tướng không, không hiện tượng nào thực sự có sinh, có diệt, có có, có không, có dơ, có sạch, có thêm và có bớt.

“Chính vì vậy mà trong cái không, năm uẩn là hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức đều không có mặt như những thực tại riêng biệt. Mười tám lĩnh vực hiện tượng là sáu căn, sáu trần và sáu thức cũng đều không có mặt như những thực tại riêng biệt; mười hai khoen nhân duyên cùng sự chấm dứt của chúng, bốn đế là khổ, tập, diệt và đạo cũng không có mặt như những thực tại riêng biệt; tuệ giác và chứng đắc cũng đều như thế.

“Vị bồ-tát khi thực tập phép quán tuệ giác qua bờ không thấy có gì cần được chứng đắc, nên không thấy còn có gì chướng ngại trong tâm. Và vì tâm không còn chướng ngại nên vị ấy vượt thắng được mọi sợ hãi, đập tan được mọi tri giác sai lầm và đạt được nirvāṇa tuyệt hảo.

“Tất cả các Bụt trong quá khứ, hiện tại và vị lai nhờ nương vào phép thực tập tuệ giác qua bờ mà đạt tới chánh giác toàn vẹn.

“Cho nên, này thầy Śāriputra, ai cũng cần biết rằng tuệ giác qua bờ là một linh chú lớn, là linh chú sáng nhất, là linh chú cao nhất, là linh chú không thể so sánh được. Đó là tuệ giác chân thực có khả năng diệt trừ tất cả mọi khổ nạn. Vì vậy ta nên đọc lên câu linh chú sau đây để tán dương tuệ giác qua bờ:

“Gate, gate, pāragate, pārasamgate, bodhi, svaha!”

Kinh văn Tâm Kinh mới bằng kệ tụng 5 chữ:

Avalokita

Khi quán chiếu sâu sắc

Với tuệ giác qua bờ,

Bỗng khám phá ra rằng:

Năm uẩn đều trống rỗng.

Giác ngộ được điều đó,

Bồ-tát vượt ra được

Mọi khổ đau ách nạn.(C)

“Này Śāriputra,

Hình hài này là không,

Không là hình hài này;

Hình hài chẳng khác không,

Không chẳng khác hình hài.

Điều này cũng đúng với

Cảm thọ và tri giác,

Tâm hành và nhận thức. (C)

“Này Śāriputra,

Mọi hiện tượng đều không,

Không sinh cũng không diệt,

Không có cũng không không,

Không dơ cũng không sạch,

Không thêm cũng không bớt. (C)

“Cho nên trong cái không,

Năm uẩn đều không thể

Tự riêng mình có mặt.

Mười tám loại hiện tượng

Là sáu căn, sáu trần

Và sáu thức cũng thế;

Mười hai khoen nhân duyên

Và sự chấm dứt chúng

Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo

Tuệ giác và chứng đắc

Cũng đều là như thế. (C)

“Khi một vị bồ-tát

Nương tuệ giác qua bờ

Không thấy có sở đắc

Nên tâm hết chướng ngại.

Vì tâm hết chướng ngại

Nên không còn sợ hãi,

Đập tan mọi vọng tưởng,

Đạt niết-bàn tuyệt hảo. (C)

Chư Bụt trong ba đời

Nương tuệ giác qua bờ

Đều có thể thành tựu

Quả chánh giác toàn vẹn. (C)

“Vậy nên phải biết rằng

Phép tuệ giác qua bờ

Là một linh chú lớn,

Là linh chú sáng nhất,

Là linh chú cao tột,

Không có linh chú nào

Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực

Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn. (C)

Vậy ta hãy tuyên thuyết

Câu linh chú qua bờ:

“Gate, gate,

pāragate,

pārasamgate,

bodhi, svaha!” (CC)

Kinh văn Tâm Kinh mới bằng Anh ngữ:

The Insight that Brings Us to the Other Shore

Avalokiteshvara

while practicing deeply with

the Insight that Brings Us to the Other Shore,

suddenly discovered that

all of the five Skandhas are equally empty,

and with this realisation

he overcame all Ill­being.

“Listen Shariputra,

this Body itself is Emptiness

and Emptiness itself is this Body.

This Body is not other than Emptiness

and Emptiness is not other than this Body.

The same is true of Feelings,

Perceptions, Mental Formations,

and Consciousness.

“Listen Sariputra,

all phenomena bear the mark of Emptiness;

their true nature is the nature of

no Birth no Death,

no Being no Non­being,

no Defilement no Immaculacy,

no Increasing no Decreasing.

“That is why in Emptiness,

Body, Feelings, Perceptions,

Mental Formations and Consciousness

are not separate self entities.

The Eighteen Realms of Phenomena

which are the six Sense Organs,

the six Sense Objects,

and the six Consciousnesses

are also not separate self entities.

The Twelve Links of Interdependent Arising

and their Extinction

are also not separate self entities.

Ill­being, the Causes of Ill­being,

the End of Ill­being, the Path,

insight and attainment,

are also not separate self entities.

Whoever can see this

no longer needs anything to attain.

“Bodhisattvas who practice

the Insight that Brings Us to the Other Shore

see no more obstacles in their mind,

and because there are no more

obstacles in their mind,

they can overcome all fear,

destroy all wrong perceptions

and realize Perfect Nirvana.

“All Buddhas in the past, present and

future by practicing

the Insight that Brings Us to the Other Shore

are all capable of attaining

Authentic and Perfect Enlightenment.

“Therefore Sariputra,

it should be known that

the Insight that Brings Us to the Other Shore

is a Great Mantra,

the most illuminating mantra,

the highest mantra,

a mantra beyond compare,

the True Wisdom that has

the power

to put an end to all kind of

suffering.

Therefore let us proclaim

a mantra to praise

the Insight that Brings Us to the Other Shore:

Gate, Gate, Paragate, Parasamgate,

Bodhi Svaha!”

Để đọc thêm bằng tiếng Anh, xin xem tại đây:

http://plumvillage.org/news/thich-nhat-hanh-new-heart-sutra-translation/

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (9 bài gửi)

Chú Tiểu chùa quê 23/10/2014 22:07:53
Tình thức con người được dựng lập ngang qua 5 uẩn để hình thành 4 cú "Có, không, cũng có cũng không, không có không không". Nhưng nơi thật trí Bát nhã thì lìa 4 cú, tuyệt bách phi; nên Tổ Huệ Năng nói "Bản lai vô nhất vật". Ba cú "có, không, cũng có cũng không" là do ý thức chấp thủ mà thành. Còn cú thứ 4 là do rơi vào hôn trầm, ngủ gục, trầm không trệ tịch, mộng mơ nên nói "không có không không"; nhưng Thiền sư Nhất Hạnh lại nhầm cho trạng thái mê muội này là trí Bát nhã chăng???
Minh Hải 06/10/2014 11:20:17
Tôi nghĩ rằng Thầy chỉ Phương tiện để dạy học trò thôi.
25/09/2014 01:35:28
Cái tạm gọi là chân như, Phật tánh...vượt thoát ra khỏi mọi ngôn ngữ, khái niệm.Ở đây ngôn ngữ chỉ là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng.Có kéo dài ngón tay ra hay rút ngắn nó lại cũng chẳng hề gì,khéo nhận ra mặt trăng là được.
Thái Không 24/09/2014 16:03:37
Thưa anh Nhất Hạnh!

Thật sai lầm, thật sai lầm! Càng sửa càng sai lầm!
Đừng chế biến, đừng ngộ nhận, càng nói càng sai lầm!
Hảy im lặng, hảy thực hành, hảy tỉnh giác.
Xin anh hảy nghe câu chuyện Thiền này nhé:

Thuở xưa, Thạch Sương là một vị Thiền sư rất nổi tiếng tại Trung Quốc. Khi thị tịch mà không có đệ tử nối pháp. Sau lễ tang của Ngài, đại chúng thỉnh cử Thủ tọa thuyết pháp khai thị. Khi Thủ tọa lên pháp tòa chuẩn bị tuyên thuyết, Thị giả của Ngài Thạch Sương là Sa di Cửu Phong 15 tuổi, bước đến trước và nói :
- Sư phụ chúng ta thường dạy về bảy pháp ‘ Đi Thẳng ’ :

1. Đi thẳng, Thôi nghỉ.
2. Đi thẳng, Buông hết.
3. Đi thẳng, Thu lạnh nước trong .
4. Đi thẳng, Vạn năm một niệm.
5. Đi thẳng, Tro lạnh cây khô.
6. Đi thẳng, Lò hương miếu cổ.
7. Đi thẳng, Hương xông gió lặng.

Nếu thầy Thủ tọa hiểu thật nghĩa của 7 pháp đi thẳng này,
thì xin ban Pháp ngữ, bằng không thì chớ nên.
Thủ tọa đáp: “ Một sắc màu, khác cách dùng.”
Cửu Phong nói : “Tôi không tin như thế !”
Thủ tọa bảo: “Nếu không tin, tôi sẽ chứng minh cho ông thấy.”
Sau đó, Thủ tọa đốt lên một nén hương cắm vào lư, ngồi ngay thẳng, im lặng nhìn hương tàn, rồi thị tịch. Mọi người la lên :
- A ! Vị sư cả này cũng tịch nữa rồi !
Khi ấy Thị giả vỗ nhẹ vào lưng xác Thủ tọa ba lần và nói :
- Ngồi tịch, đứng hóa, cách nào cũng được, không chướng ngại. Nhưng thật nghĩa bảy pháp Đi Thẳng của sư phụ chúng ta, thậm chí trong mộng, thầy cũng chưa thấu đạt.

Vậy anh dịch lại Tâm Kinh Bát Nhã bằng kiến thức học giả làm chi cho sai thánh ý, lại còn đẻ ra các danh từ quái dị nữa nào là Xuất sĩ v.v.
Chúc anh mau thành tựu TUỆ GIÁC

Thái Không
Đạo Quang 24/09/2014 01:48:56
Bát nhã là thật trí, nên tự thân nó siêu vượt hết thảy mọi cặp phạm trù đối đãi của hai bên (nhị nguyên), nên nói “Bất sanh bất diệt”. Từ Bát nhã được phiên âm từ tiếng Phạn là Prajñā (प्रज्ञा) và được dịch nghĩa là Trí tuệ cứu cánh, hay là trí không. Trí tuệ Bát nhã là thứ trí tuệ bản nhiên nên tự thân siêu việt thiện ác. Trí vô phân biệt (trí không) nên cũng gọi là trí giác ngộ hay trí Phật. Trí này từ trong bản chất nó xa lìa mọi động cơ chấp thủ của tình thức, tuyệt nhiên thanh tịnh và trong suốt như hư không vô sở hữu. Vì vậy cho nên Ngài Huệ Năng nói: “Bản lai vô nhất vật”. Chú Da di hiểu tâm kinh ngang qua vọng thức, nên vị thầy muốn chỉ cho chú tuệ giác thật tại bởi trí Bát nhã (vô niệm niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành tà). Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng chỉ thẳng vậy; nhưng do Ngài Nhất Hạnh đem vọng thức ra để cảm nhận nên mới thêm vào “không có, không không”, thật là một sai lầm lớn.
Trần Khánh Dung 23/09/2014 11:16:52
Tôi không hiểu gì hết. Vì vậy tôi sẽ vẫn đọc bài kinh Bát Nhã như hàng mấy mươi năm nay ba má tôi đã đọc, quý Thầy, quý Cô ở VN đã đọc. Quan trọng là tâm mình 1 lòng tin tưởng vào Phật Pháp, còn chuyện dịch kinh chuẩn hay chưa là việc qua cao siêu so với người phàm phu như mình, mà có cần thiết dịch lại những bài kinh đã tồn tại hàng ngàn năm qua như kinh Bát Nhã, Chú Vãng sanh Chơn ngôn Tịnh độ, Chú Đại Bi hay là nên để thời gian tu học, để đạt được chân tâm kiến tánh? Tôi nhớ có 1 câu chuyện về Đức Phật khi qua đò, Ngài đưa đồng xu để được người lái đò đưa qua sông, 1 người khác có phép thuật đã tự bay qua sông, trong khi người này tự đắc làm được việc phi phàm thì Đức Phật thong thả"Có cần phải bỏ ra cả hàng mấy mươi năm chỉ để làm việc mà chỉ 1 đồng xu ta đã có thể làm được?"
Diệu Mai 20/09/2014 21:02:30
Ngài Nhất Hạnh đã nhầm lẫn giữa hiện tượng tâm-vật lý với tự tính của các pháp, nên mới dịch:"tất cả mọi hiện tượng đều mang theo tướng không" mà không nhận ra rằng: "Hết thảy mọi pháp đều không tướng". Cái mà tôi dùng để uống trà là chính nó, mà chẳng có tướng giả lập của tâm thức là: cốc, tách, ly, chum, cup gì cả. Vì vậy, Ngài Mã Minh nói: "Hết thảy mọi pháp từ trong bản chất của nó, lìa tướng danh tự, lìa tướng nói năng, lìa tướng tâm duyên. Rốt ráo bình đẳng, không có biến đổi, không thể phá hoại, chỉ là nhất tâm, nên gọi chân như". Đức Phật dùng "sở hữu tướng" là để chỉ cái tướng của vọng tâm(tâm sở hữu pháp), chứ không nói đến tướng đương tại khách quan bao giờ. Bởi "mọi tướng do vọng tâm thi vi tạo tác là như mộng huyễn, bào ảnh...", vốn nó là không gì cả(ngộ không). Nếu Ngài thêm "không có cũng không không" thì tướng không không ấy là gì? Đó là do sự nhầm lẫn giữa trò chơi tri thức với con đường đạo học vậy.
Liên Hoa 19/09/2014 07:32:28
Không biết anh Minh Thạnh có chất vất HT về việc tự ý thêm từ vào kinh không nhỉ?
thien huu 18/09/2014 17:31:53
Quá hay!
tổng cộng: 9 | đang hiển thị: 1 - 9
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả
image BTV TP.HCM (Phùng Nam) Phó thường trực Ban Biên tập, Ban Trị sự phụ trách phía Nam: ĐT: 0989.047.041 - 0938.740.839; Email: namnguyenlac@gmail.com