Thiền là gì?
image

Thiền trong tiếng Anh, tùy theo ngữ cảnh, có thể được dịch như một danh từ: meditation, contemplation, concentration, abstraction, trance…hoặc như một động từ: to meditate, to comtemplate, to think of, to imagine, to call to mind, to recollect…Tuy nhiên tất cả các từ này đều chỉ đúng theo từng ngữ cảnh riêng biệt mà thôi, có nghĩa là không được đúng theo ý nghĩa tổng quát nhất.

Định trong tiếng Anh phổ thông được dịch là Samadhi hay samatha.

Quán trong tiếng Anh được dịch là contemplation. Từ “Tuệ quán” của Đạo Phật Nguyên Thủy được dịch theo âm Pali Latin hóa là Vipassana.

Có trường hợp vì không biết đến các phái thiền khác nhau, nênnhiều người vẫn liên tưởng thiền là Zen!

Ở Việt Nam hay các quốc gia có Đạo Phật, nói đến “thiền” thì đa số người đều liên tưởng đến phương pháp hành trì của Phật giáo. Tuy nhiên, ở Ấn Độ nói đến “thiền” thì người ta lại liên tưởng đến Bà La Môn giáo hoặc các tôn giáo khác cùng ở khu vực này. Ngay trong Phật giáo, chữ “thiền” cũng được dịch từ những chữ có nội dung khác biệt!

- Thiền, trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy, viết bằng tiếng Pali là bhavana dùng để chỉ những pháp thực hành nhằm rèn luyện tâm. Phật giáo nguyên thủy có hai pháp thực hành: Pháp hành thiền định (samatha bhavana) và pháp hành thiền quán (vipassanabhavana).

- Định, trong Phật giáo nguyên Thủy gọi bằng tiếng Pali là Jhana. Trong kinh điển Phật giáo phát triển, tức Phật giáo đại thừa, Định được gọi bằng tiếng Sanskrit là dhyana .

Khái niệm “Thiền” của Phật giáo đại thừa bị thay đổi theo từng quan niệm khác nhau của các tông phái khác nhau. Vì khi phát triển thành Phật giáo Đại thừa người ta sử dụng các phương pháp thiền rất khác biệt với nhau và các phương pháp đó nhiều khi chẳng còn mối liên hệ nào với pháp thiền mà Đức Phật Gautama đã từng thực hành và giảng dạy. Giữa thập đại tông phái của Đại thừa, khó xác định được tông phái nào có xử dụng hoặc không xử dụng loại thiền nào!

Tuy nhiên, còn nhiều phương pháp thiền khác, cũng được dùng trong Yoga, Lão giáo… Vậy chữ Thiền chỉ là một từ gọi “chung chung” của rất nhiều các nội dung rất khác biệt. Với kiến thức phổ thông, thiền cũng thường được hiểu như phương pháp thư dãn, chống stress, cân bằng đầu óc, giữ gìn sức khỏe v.v… Với kiến thức chuyên môn hơn thì ta có sự phân biệt giữa thiền của Sakya Muni tức thiền nguyên thủy, thiền của Phật giáo phát triển, thiền của Thiền tông, thiền của Mật tông, thiền của Yoga hay thiền của đạo Lão v.v…

Thiền là gì?


Bởi vì thiền là phương pháp của nhiều pháp môn, nên câu hỏi “thiền là gì?” quả là một câu hỏi không được rõ ràng và vì thế chưa thể có câu trả lời chính xác. Nhưng đối với đa số những người sơ tâm, đó lại là một câu hỏi luôn được đặt ra với nhiều trăn trở. Bài viết này là một cố gắng để trả lời một câu hỏi rất “mơ hồ”, nhưng rất thường được đặt ra! Và bài viết này coi Thiền là một từ chung mà ta thường gặp, nghĩa là phạm trù của nó, không thuộc về riêng của một tôn giáo hay tông phái nào cả.

Gõ vào Google câu ‘Thiền là gì?” cho ra những trang kết quả tiếng Việt với quá nhiều các câu trả lời khác biệt. Mỗi người đứng ở những pháp môn khác nhau, ở những góc độ khác nhau, cho nên những câu trả lời cũng khác nhau. Sau đây là một số câu trả lời tìm thấy ngẫu nhiên trên Internet ngay trong thời điểm viết bài này, tôi để links dẫn như một bằng chứng cho việc giải thích rất khác biệt về một chữ “Thiền”!

Của trang Yoga VN: Theo thuật ngữ Yoga, Thiền được gọi là “Dhyana” nghiã là “dòng chảy của tâm trí”. Đây là một trạng thái tinh khiết và tập trung cao độ khi tâm trí xuôi chảy không gì ngăn trở, hoàn toàn đắm mình trong ý nghĩ về Ý Thức Vũ Trụ.

Của Answers.Yahoo.vn : Thiền định có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại. Ngoài tác dụng thư giãn, nó còn giúp phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng chức năng cơ thể.

Của Wiki tiếng Việt: Tất cả các trào lưu triết học Ấn Độ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là là Tĩnh lự (zh. 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na (zh. 馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Đây là một thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”…

Của một sư cô: Thiền là gì? Thiền là trạng thái tâm vắng lặng trước sự vật, hiện tượng xảy ra trước mặt hay xung quanh ta….

Của một hòa thượng: Một câu hỏi khó giải đáp, vì Thiền phủ nhận tất cả, vì bản chất của Thiền vượt ngoài định nghĩa và giải thích, không có ngôn ngữ và văn tự, lời dạy đặc biệt ngoài kinh điển, hay “biệt truyền ngoài giáo điển”, chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật “trực chỉ minh tâm, kiến tánh thành Phật”.

Của Krisnamurti: Thiền không phải là phương tiện. Nó là cả hai: phương tiện và cứu cánh. Thiền là một điều phi thường. Nếu có bất cứ một sự bắt buộc, cố gắng bắt tư tưởng phải tuân thủ, bắt chước, thì Thiền sẽ là một gánh nặng.

Của Osho : Vậy Thiền không phải là chống lại hành động. Bạn không cần phải thoát ly ra khỏi cuộc sống. Nó đơn thuần dạy bạn một cách sống mới: Bạn trở thành trung tâm của cơn xoáy lốc. Cuộc sống của bạn cứ tiếp diễn, nó cứ ngày một mạnh mẽ thêm, với nhiều niềm vui sướng hơn, với nhiều sáng tỏ hơn, nhiều cái nhìn hơn, nhiều sáng tạo hơn, mà bạn thì vẫn đứng xa, chỉ là một người quan sát trên đồi, đơn thuần thấy tất cả những điều đang xảy ra quanh bạn.

Các câu trả lời vừa liệt kê ở trên, cho thấy có rất nhiều kiểu trả lời với những nội dung rất khác biệt. Vì thế, vấn đề quả thực rất không đơn giản. Câu hỏi thiền là gì? Luôn là nỗi bức xúc cho một người sơ tâm mới bước vào thiền. Vô số sách về Yoga và Thiền định đã được xuất bản, và hiện nay có thêm cả Internet, một khối tư liệu thật phong phú của toàn thế giới. Nhưng nếu không khéo, càng đọc càng lẫn lộn! Chỉ có người thực sự có thể nghiệm về thiền mới có thể viết hoặc dịch những tài liệu về thiền một cách đúng đắn và chính xác. Nếu người viết hoặc dich sách hoàn toàn không có kinh nghiệm thực hành, thì bạn sẽ nhận thấy ngay rằng cuốn sách luôn có biểu hiện rối rắm khó hiểu. Sụ khó hiểu ít khi ở bản chất vấn đề, mà chính ở tại người giải thích. Tôi không tin nhiều lắm ở luận điệu cho rằng nội dung thiền là không thể diễn đạt, bất khả tư nghì. Hoặc là phát biểu, hai là phải im lặng. Không thể cứ nói, cứ viết tràng giang, in sách lấy tiền rồi cuối cùng lại kết luận là tri giả bất ngôn! (biết thì không nói được) hoặc bất khả tư nghì! (không thể nghĩ bàn). Như vậy phải chăng là chơi khăm độc giả? Tôi nhớ có đọc rất nhiều luận điệu kiểu “thiền thì không thể diễn đạt”, “Đi đứng nằm ngồi cũng là thiền !” hoặc “Thiền là nhướng mày chớp mắt”.

Hiện tại, trên đa số sách báo, ta luôn gặp những lời giải thích đầy “phong cách thiền” đại loại giống như vậy. Một thiền sư có thể nghiệm thiền đầy đủ thì dù có dùng lời lẽ bình dị mộc mạc thì người nghe vẫn hiểu, vẫn thấy nó là ngôn ngữ trí huệ. Một người không có thể nghiệm hoặc thể nghiệm quá ít, dù có xử dụng ngôn ngữ uyên thâm trác tuyệt, thì trước sau cũng chỉ là loại “ngôn ngữ nhái” rỗng tuếch. Cũng phải biết rằng, Đức Phật trong lúc giảng dạy, ngài không dùng thứ ngôn ngữ bác học lúc bấy giờ, mà dùng ngôn ngữ bình dị của giới dân giả đó là tiếng Pali. Phải biết rằng những trải nghiệm thiền (Định và Quán), đã từng được mô tả rất mạch lạc và rõ ràng trong kinh điển Phật giáo. Không hiểu sao, qua một thời gian dài “phát triển”, thế hệ sau lại tránh né những mô tả cần thiết này. Tôi để chữ “phát triển” trong ngoặc như một nỗi băn khoăn!

Trên sách báo chữ “Thiền” được sử dụng rất rộng rãi, vì thế nếu không so sánh nó trong ngữ cảnh riêng biệt thì dễ lẫn lộn. Có khi “Thiền” được dùng như là một động từ:· “Thiền” là động tác quay tâm vào trong, an trú tâm trên một đối tượng.
 
Phật giáo nguyên thủy có định nghiã kinh điển: Samatha là an trú tâm trên một đối tượng nhất định, làm vắng lặng năm pháp chướng ngại (triền cái) bằng năm chi thiền để đạt được lần lượt bốn định hữu sắc hay vô sắc.· “Thiền” cũng là động tác quan sát theo dõi các đối tượng về thân hay tâm: Ví dụ: “Thiền quán” tức Vipassana. Đối với thiền Phật giáo, nên tránh dùng chữ “thiền” chung chung, mà nên dùng chữ “thiền-định” hay “thiền-quán” để thật rõ nghĩa.
 
“Thiền” cũng được dùng như là một danh từ. Trong một số các tài liệu, “thiền” có thể được dùng để chỉ một trạng thái. Ví dụ, trạng thái của thiền định của Thiền nguyên thủy bao gồm tám trạng thái của bốn định hữu sắc và bốn định vô sắc. Danh từ “Thiền” trong ngôn ngữ bình thường có thể ám chỉ một kĩ thuật hay phương pháp. Ví dụ: thiền định chỉ, thiền quán chiếu, thiền tĩnh, thiền động, Như lai thiền, Tổ sư thiền v.v… Có người (ví dụ Krisnamurti) nói rằng thiền không cần đến phương pháp và kĩ thuật, vì phương pháp hay kĩ thuật vận dụng đến đầu óc (mind), cho nên chỉ làm chướng ngại việc nhập thiền. Điều đó đúng! Nhưng Osho phân tích rằng, trước khi đi đến trạng thái thiền, đầu óc có quá nhiều chướng ngại (năm triền cái, the five hidrances), nên cần phải có kĩ thuật để vượt những chướng ngại này.
 
Phương pháp hay kĩ thuật là để chuẩn bị cho giai đoạn trước thiền. Hoặc ta cũng có thể nghe một kiểu nói rất “phong cách thiền” là: thiền không có “động” cho nên không thể có “động từ thiền”. Điều này đúng với tình trạng của thiền chỉ (samatha) nhưng không đúng với thiền quán (vipassana). Ngay trong trường hợp của chỉ (samatha), khi chuẩn bị bắt đầu vào “chỉ” thì ta đã làm một động tác rồi! Tóm lại, phân biệt danh từ, động từ, hay thế này thế nọ, cốt làm sao cho người muốn tìm hiểu, nắm bắt cái khái niệm chung nhất của chữ thiền, chữ mà ta thường đọc được trên sách báo.
 
Bây giờ tài liệu trên Internet về kinh luận của PG Nguyên thủy, PG Đại thừa, Mật tông, Thiền tông, Yoga v.v…quá đầy đủ, cho nên việc tìm hiểu và so sánh giữa các loại “Thiền” có phần dễ dàng hơn. Câu hỏi Thiền là gì phải được trả lời tùy theo nội dung mà nó muốn ám chỉ. Nghĩa là câu trả lời phải tùy theo từng tôn giáo hoặc pháp môn. Xin liệt kê sau đây một số nội dung chính:

Thiền của Đạo Phật nguyên thủy 

Gồm có hai kỹ thuật chính là Thiền Định (samatha) và Thiền Tuệ Quán (vipassana). Đối với Đạo Phật Gautama, khi nói đến thiền nhất thiết phải phân biệt đó là Thiền Định hay Thiền Quán. Thiền định còn gọi là Định hay Tịnh chỉ, là pháp an trú tâm trên một đối tượng. Thiền quán là công phu quán sát các đối tượng, hiện tượng đang hiện hữu, diễn biến, xảy ra trong thân và tâm với mục đích để nhìn thấy tính duyên hợp, vô thường và vô ngã của chúng. Cần nên biết: Thiền định của Phật giáo nguyên thủy đưa đến bốn bậc thiền hữu sắc là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, và bốn bậc thiền vô sắc là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những thiền định nói trên mặc dù có ngoài Đạo Phật và không đưa đến bốn đạo quả, nhưng vẫn là kĩ thuật luyện tâm song song với pháp thiền quán. Pháp Thiền Quán được coi là một sáng tạo riêng của Đức Phật. Việc thực hành Thiền quán cần sử dụng yếu tố định, cho nên công phu thiền định là một lợi thế cho thực hành thiền tuệ quán. 

Thiền của Phật giáo đại thừa 

Khi Đạo Phật phát triển thành Đại thừa, thiền cũng thay đổi khác đi thành niệm Phật hoặc niệm chú, và thậm chí có những tông phái không còn nhắc nhở đến những pháp thiền định hay thiền quán nữa. Như vậy, từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật giáo đại thừa, Thiền đã có sự thay đổi nội dung rất lớn. Chẳng hạn pháp thiền Lục Diệu pháp môn của Trí Khải (Đại thừa Trung Quốc) không có nội dung từ các bộ Nikaya, mà lại thấm đậm hương vị Lão giáo. Từ “Thiền của Phật giáo đại thừa” đến “Thiền của Thiền tông” lại thêm một thay đổi nội dung lớn hơn nữa. Mặc dù tự nhận là một phát triển của Phật giáo Đại thừa nhưng Thiền Tông Trung Quốc (Thiền Đông Độ) có một sắc thái rất đặc sắc. Rất tiếc người Trung Quốc đã không nhận đây là một đỉnh cao trí tuệ của văn hóa Trung Quốc để Thiền Tông được là một đỉnh cao bên cạnh các đỉnh cao Khổng Giáo và Lão giáo!
 
Thiền của Thiền tông

Rất nhiều sách, bài viết, uyên bác cao siêu giải thích về phương pháp thiền của thiền tông. Tuy nhiên, tất cả đều làm cho người đọc, khó hình dung được thực sự bản chất thiền của Thiền tông là gì! Người sơ tâm chẳng nên đi thẳng vào sách thiền của Thiền tông, một môn phái đặc thù và khác biệt so với đạo Phật truyền thống. Lý do là chữ “Thiền” của thiền tông mang nội dung gần như là xa lạ với chữ “Thiền” của các tông phái khác. Cũng nên biết rằng, khi một nhánh Phật giáo đại thừa phát triển thành Thiền tông Trung quốc, thì chữ thiền (Dhyana) của Đại thừa lại một lần nữa thay đổi với một nội dung khác. 

Thiền của thiền tông không phải là thiền định, cũng không phải là thiền quán, không phải là jhana hay dhyana, thiền của Thiền tông cũng không hẳn là tọa thiền. Thiền của Thiền tông được cho là nhắm vào mục đích kiến tánh để đốn ngộ, cho nên phương pháp của nó là một đặc thù. Đây có thể là “quán công án” hoặc “khán thoại đầu”, cho nên nó có thể thực hiện ở bất cứ tư thế nào, hay ở bất cứ nơi đâu. Đây có thể là thủ pháp đánh và hét, mục đính làm cho người đệ tử bất ngờ hốt hoảng rơi vào trạng thái “mất hồn” đưa đến tình trạng vô ngã tạm thời. Đây có thể là cách quan sát sự vật của thế giới hiện tượng mà tránh để trí óc định danh các sự vật.
 
Mục đích trong các phương pháp của Thiền tông là nhằm phá hủy các khái niệm và ngôn ngữ hình thức, vốn được cho rằng không thể chuyên chở được nội dung của thực tại, trái lại còn bóp méo thực tại tuyệt đối. Truyền thống này khiến ngôn ngữ của Thiền tông thường khó hiểu và lập dị đối với lí trí bình thường. Một khuynh hướng Thiền Trung Quốc nhấn mạnh vào khái niệm “sống trong hiện” tại đang được phổ biến nhiều ở Tây phương bởi các Đạo sư như Krisnamurti, Eckhart Toll, Osho…tuy nhiên các Đạo sư không đưa ra một phương pháp rõ ràng nào để thực việc “sống trong hiện tại” này cả (dường như các đạo sư tin rằng chỉ cần dùng “ý chí cá nhân” là có thể sống trong hiện tại được!)

Thiền của Yoga

Đạo Phật xuất phát từ minh triết của Ấn độ. Thiền Định trong đạo Phật cũng đã bắt nguồn từ Yoga. Thời đó Yoga là một trong sáu phái triết học nổi tiếng của Ấn độ. Yoga có những tông phái thực hành thiền để đạt cứu cánh giải thoát (Giải thoát theo quan điểm Hindouism).
 
Pantajali là người có công biên tập tất cả tài liệu về Yoga trong giai đoạn từ thế kỉ thứ 05 đến thế kỉ thứ 03 trước công nguyên. Bây giờ khi nói đến thiền, cũng có rất nhiều người liên tưởng đến những phương pháp Yoga. Ngoài yoga rèn luyện khí lực và cơ thể vật chất là Hatha yoga, còn có Yoga luyện tâm, đó là Rahja yoga. Rahja yoga quan niệm Vật chất không thể tách rời Ý thức hay ngược lại. Tâm và Vật là một thực tại thống nhất, không thể tách rời. Sự tiến hóa của tâm tất yếu phải đi liền với sự thay đổi khí lực tức năng lượng cơ thể và ngược lại. Từ Rajha yoga phát sinh rất nhiều kĩ thuật Yoga khác như: Kundalini yoga, Transcendental yoga, Kriya yoga v.v…Tất cả những phương pháp này có thể gọi là thiền của yoga.
 
Một loại thiền của Yoga đang trở thành “hiện tượng” trong cộng đồng người Việt trong hai thập niên trở lại đây, đó là Surat Shab yoga tức thiền Thanh Hải. Cũng giống như một số trừơng phái Thiền khác, không hiểu sao Surat shab Yoga lại cố nhận mình là Đạo Phật! Cũng giống như tất cả các loại thiền khác, Thiền Thanh Hải chưa bao giờ biết pháp của mình là thiền định hay thiền quán. Dù không phân biệt thiền định hay thiền quán, thiền Thanh Hải cũng không bào giờ biết các dấu hiệu hay chuẩn mực của sự chứng đắc là gì! Nếu được gọi là chứng đắc, thì một thiền sư của pháp môn Thanh Hải cũng không thể tự xác định được đạo quả của mình! 

Thiền của Mật tông Phật giáo 

Mật tông Phật giáo bắt đầu ở Ấn độ, nhưng lại chỉ phát triển ở Tây Tạng, nên nói đến Mật tông Phật giáo là nói đến Mật tông Tây Tạng. Mật tông Tây Tạng chú trọng đến thiến quán hơn thiền định (có thể tham khảo cuốn Giải thoát trong lòng bàn tay của Papongka do sư cô Trí Hải dịch). Thiền của Mật tông hiển nhiên được phát triển trên nền minh triết của Yoga hình thành trước đó. Mật tông dùng thiền quán đối với Chơn ngôn (darani), Mandala, Linh phù (yantra), các vị hóa thần (Yidam). Một trong những đối tượng quán của thiền Mật tông là Kundalini. Có lẽ Kundalini yoga là của Yoga Ấn giáo hơn là của Mật tông Phật giáo! Mật tông dùng thiền quán về luồng hỏa xà Kundalini (tummo) làm một trong những phương tiện để chuyển hóa tâm thức. Sáu pháp của Naropa, đạo sư Mật tông, được gọi là sáu yogas (six yogas of Naropa). Đến đây ta thấy được mối quan hệ sâu sắc giữa Yoga và Mật tông. Và cũng thấy rằng thiền chỉ là phương tiện của nhiều con đường. 

Thiền của Lão giáo 

Còn gọi là thiền của Đạo gia, hoặc cũng có khi gọi thẳng là Đạo gia khí công. Vì sao lại có thể gọi thiền là khí công? Vì bản chất của khí công cũng là thiền quán trên một đối tượng cơ thể, đó là luồng khí lực. Thiền của Lão giáo nhắm vào khai thông các kinh huyệt chính như Nhâm và Đốc, khai thông luồng hỏa hầu… Công phu thiền của Lão giáo đưa đến khai mở Huyền quan khiếu, thành tựu thánh thai… Ta thấy có sự tương đồng trùng khít giữa thiền của Lão giáo với thiền của Yoga hay thiền của Mật tông, trên một nguyên lý: Chuyển đổi của tâm phải bắt đầu bằng sự chuyển đổi khí lực của cơ thể. Dĩ nhiên đây không phải là chủ nghĩa duy vật mà chỉ là duy “Một”. Cái Một không thể tách rời thành hai “tâm” và “vật”. 

Thiền là phương tiện thực hành của nhiều tôn giáo khác. Thiền không hẳn là của riêng Thiền tông (Chan, Zen) hoặc của riêng đạo Phật hay Ấn giáo. Nhóm tôn giáo xuất phát từ Cựu ước như Do Thái giáo, Hồi Giáo, Thiên chúa giáo hay nói tới từ “Mặc Khải”. Mặc khải (revelation) cũng chính là Thiền (meditation). Kinh Khải Huyền (Apocalypse) mô tả những cõi giới hoàn toàn tương ứng vơí một tam muội. Thánh Jean de la Croix cũng mô tả thể nghiệm tâm linh của mình (Ascension of Mount Carmel) giống như một hành giả thiền. Như vậy thiền cũng tồn tại trong khu vực của các tôn giáo Do thái, Hồi và Thiên Chúa, như một phương pháp tiếp cận Thượng Đế. Thiền là phương pháp thực hành tâm linh rất phổ quát. Cho nên một định nghĩa thiền hay một giải thích về thiền càng mang tính phổ quát càng dễ được cộng đồng tiếp thu. Dù có khác biệt về phương pháp và nội dung qua thời gian và khu vực văn hóa địa lý, nhưng mục đích của thiền thì không đổi. Để hiểu rõ thêm Thiền (meditation) là gì? Bạn có thể đặt thêm câu hỏi:

Thiền không phải là gì? 

Thiền không hẳn là “Trong không vọng ngoài không động”  

Bên trong, tâm không vọng. Nhưng bên ngoài thì thân vẫn có thể động. Có rất nhiều loại thiền “động” như thiền hành, thiền quay tròn, thiền với những động tác đặc biệt (để khích động Kundalini chẳng hạn…). Osho trình bày nhiều về các loại thiền động (dynamic meditation). Thiền sinh có thể được dẫn đến trạng thái nhập thiền khi nhún nhảy hoặc lắc mạnh cơ thể theo nhịp điệu hoặc âm nhạc! Khi các bộ lạc nhảy múa hoặc các đồng cốt đong đưa cơ thể thì có lẽ tác dụng và hiệu ứng cũng nằm trong nguyên lý thiền động này. Tập trung nội quán, mà đối tượng quán là năm uẩn, chính là Vipassana, là phương pháp thiền quán của đạo phật nguyên thủy. Đối tượng quán của Vipassana là cơ thể vật chất, ý thức và cảm xúc, xảy ra trong cơ thể. Thiền có thể thực hiện trong tất cả các động tác! Thiền động là một khái niệm không thể phủ nhận. Dù khó có thể đi vào một định sâu, nhưng thiến động hình như rất có lợi cho người sơ tâm, muốn biết hương vị đầu tiên của thiền là gì! Không quên rằng: Thiền hành (đi chậm rãi trong chánh niệm) là phương pháp phổ biến trong thời Đức Phật, vẫn đang tiếp tục được thực hành trong Đạo Phật Nguyên Thủy. 

Thiền không phải chỉ là ngồi thiền 

Đúng vậy, chỉ có Thiền Định (Samatha) là cần nhiều ở tư thế ngồi. Còn Thiền quán (Vipassana) thì không nhất thiết phải ngồi, trái lại còn được khuyến khích nên thực hiện trong cả tứ oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi). Người thực hành có thể thể thiền trong cả bốn oai nghi đi, đứng, nằm ngồi, hoặc làm những động tác đặc biệt khác. Đặc biệt với Thiền tông (Thiền công án hoặc khán thoại đầu), thiền sinh có thể tham công án hoặc khán thoại đầu trong bất cứ hoàn cảnh hoặc tư thế nào. Thiền tông Trung quốc, với khẩu quyết “kiến tánh thành Phật”, cho nên thiền là làm thế nào để kiến tánh, chứ không phải gò ép trong tư thế ngồi! Theo quan điểm này, ngồi cũng được mà không ngồi cũng được. Thậm chí trong giai thoại Thiền tông, có một vị thiền sư “đắc đạo” trách một vị thiền sư thường ngồi nhưng chưa “đắc đạo”: Tại sao lúc sống cứ ngồi không nằm rồi lúc chết lại cứ nằm không ngồi! Các Thiền sư hay nói bóng gió “đi đứng nằm ngồi cũng là thiền”.
 
Cách nói này gây ra hiểu lầm tai hại. Nhiều người sơ tâm tưởng rằng không cần phải xử dụng các phương pháp thiền, như thiền chỉ hay thiền quán, thiền động hay thiền tĩnh…Không cần phải tham công án hay khán thoại đầu, chỉ sống tự nhiên, đi đứng bình thường cũng… là thiền! Người có trải nghiệm sẽ biết rằng, trạng thái “đi đứng nằm ngồi cũng là thiền” là “kết quả” có được sau khi thành tựu, chứ không phải là “nguyên nhân” sinh khởi trạng thái thiền. Cũng như vậy “Sống trong hiện tại” là thành tựu, là kết quả, của việc nhập thiền chứ không phải là nguyên nhân hoặc là phương pháp để thực hành thiền (thiền tông Trung Quốc). Tóm lại “thiền không cần tọa thiền” chỉ là đặc điểm của một vài pháp môn giữa rất nhiều pháp môn. 

Nhưng ngồi thiền vẫn là tư thế quen thuộc và hiệu quả nhất

Tư thế ngồì thoải mái vững chắc là điều kiện tốt để thiền (cả Thiền Định lẫn Thiền Quán). Đứng thì dễ vọng động (trạo cử). Nằm thì dễ buồn ngủ (hôn trầm). Những cơn định sâu và kéo dài bắt buộc phải thực hiện trong tư thế ngồi. Đức Phật đã từng nhập sâu vào thiền định với thời gian 45 ngày trong tư thế ngồi. Chỉ ở tư thế ngồi kiết già hoặc bán già, thiền sư mới không bị ngã (tới trước hay sau) khi nhập sâu vào thiền định.
 
Đối với thiền tông, khi giữ được chính niệm một cách kiên cố, thiền sư có thể đi, đứng, nằm, ngồi, trong trạng thái thiền. Tuy nhiên Đạo Phật nguyên thủy cần những bậc định “sâu” hơn (để dễ thực hành 16 tầng tuệ quán sau này), lúc đó ngồi nhất định là tư thế cần thiết. Cũng nên nói thêm, rằng tư thế ngồi chỉ cần vững vàng và thẳng lưng là đủ. Ngồi thiền không lệ thuộc các kiểu xếp của chân. Mọi chuyển biến của tâm xảy ra trên đầu chứ không xảy ra ở hai chân. 

Thiền không là lối đi tắt 

Đây là vấn đề còn mãi trong sự tranh luận về ý nghĩa giữa pháp môn Đốn (immediate) và pháp môn Tiệm (gradual). Thiền tông cho rằng pháp môn của mình là Đốn giáo, nghĩa là có thể dẫn môn sinh kiến tánh thành Phật rất nhanh. Đốn ngộ là ngộ rất đột ngột, thường được diễn đạt là “hốt nhiên đại ngộ”. Cũng trong lí luận đó, suy ra các pháp môn khác là Tiệm giáo, cần thời gian rất lâu dài để đi đến chứng đắc. Nói rằng “đốn”, nhưng mỗi con người, ai cũng đã từng tiến hóa qua bao nhiêu đời kiếp. Nói cách khác, luôn luôn đã có một quá trình chuẩn bị của đời này hay từ nhiều đời trước, trước khi đốn ngộ. Vậy thực có một sự kiện gọi là “đốn” hay không! Còn “đốn ngộ” là sơ ngộ hay đại ngộ. Nếu đốn ngộ là chứng đắc , (enlightenment), là thành tựu (siddhi), thì phải xem xét vấn đề quả vị (stage of attainment). Cái đích “Bồ tát” (Bodhisattva) trong Thiền tông cách xa với quả vị “A La Hán” (Arahanta) là bao nhiêu. “Kiến tánh thành Phật” là lúc sơ ngộ hay đại ngộ cũng thực sự còn là một vấn đề. Thiển nghĩ, “thấy tánh” là mới biết ngõ vào thôi, còn “nhập tánh” thì mới thành Phật được.
 
Tương tự như vậy Mật tông hay Thiền tông cũng không phải là lối tu tắt như nhiều người thường nghĩ! Mượn lời nói của Osho: Một điều cần nhớ, rằng thiền là một chuyến đi dài, không có ngõ tắt. Ai nói rằng có lối đi tắt, tức người đó đã lừa dối bạn… Bởi vậy khi bắt đầu hành thiền, bạn đừng kì vọng gì quá mức. Nếu không kỳ vọng bạn sẽ không phải thất vọng. Thiền không phải là những mùa hoa sáu tháng một lần. Thiền là cây đại thụ phải cần thời gian để vươn rễ vào sâu lòng đất. Tôi cũng đồng ý với Osho như vậy. Thiền không có lối đi tắt. Tất cả đều phụ thuộc vào nghiệp, vào bộ gene của cơ thể, vào cấu trúc bẩm sinh của sinh lý thần kinh. Bạn nhập thiền dễ hơn người khác vì trước đó (kiếp trước) bạn đã từng thực tập nhiều rồi. Bạn thiền có được kết quả nhiều hay ít là vì bạn đã tiến hóa nhiều hay ít trên con đường tiến hóa của vũ trụ kể từ thủa ban sơ.
 
Tóm lại
 
Thiền gồm nhiều phương pháp và mang nhiều nội dung khác biệt. Nên hiểu Thiền như là phương tiện của nhiều tôn giáo, của nhiều pháp môn. Thiền có thể là “Thuật” bước vào Tâm. Thiền có thể là “Đạo” trong ý nghĩa tự thân của nó. Thiền có thể là cách tiếp cận với Chúa trời của một số các tôn giáo thần khải. Thiền có thể là cách điều khiển khí lực và năng lượng của Yoga trong mục đích chuyển hóa tâm linh. Thiền có thể là con đường truy tìm và thể nhập với Phật tánh trong đạo Phật.
 
Cuối cùng, nếu bạn là một Phật tử, phải nhớ rằng con đường tu hành của Đức Phật chính là pháp thực hành thiền (bhavana) gồm Thiền định (Samathabhavana)và Thiền quán (Vipassanabahavana), dù rằng những phương pháp này ngày nay không còn được các “Đạo Phật phát triển” nhắc đến. Thiền của Đức Phật Gautama có phương pháp rõ ràng còn có thể tham cứu trong tam tạng kinh điển. Thiền của Đức Phật Gautama có những tiêu chuẩn cho các tầng thiền, các quả vị, các tầng bậc chứng đắc, nhờ vậy hành giả có thể biết mình đang đi trên đạo lộ nào (đúng hay sai) và đang đứng tại đâu (mức độ nào). Nhờ sự minh bạch rõ ràng đó, những nổ lực của Phật tử sẽ không bị hoài phí.

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: trisu@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (5 bài gửi)

28/07/2015 01:07:56
Ngày xưa đức Phật Thích Ca cũng bị các "Tôn Giáo" có trước chỉ trích là tà đạo vì ngài đả phá các tư tưởng mê tín, thờ lạy,...và cuối cùng để lại một pháp tu gọi nôm na là THIỀN (thời gan đó ai tin).
Ở đời có các môn nghệ thuật, hoặc ngành nghề thì có các "dân nhà nghề" chỉ nghe người ta nói qua là biết là nổ giả hay thiệt. THIỀN cũng vậy, nhiều dân nổ chỉ xem qua bài viết hay quẹt quẹt sơ sơ vài ngày tháng cũng bình luận về thiền. Điều này gây khó khăn không it cho người muốn tầm đạo. Cũng nên nhắc lại là Đức Phật chỉ để lại pháp Thiền của ngài là trực tiếp và đòi hỏi sự dày công mà thôi. Sau đó nhiều người pha chế thêm cho dễ hành ví dụ như nghĩ đến gì đó, hoặc tập trung vào gì gì đó cho dễ và kết qủa là sửa pháp đưa ra nhiều pháp thiền QUÁN khác nhau. Kỳ thật phương pháp của Đức Phật là buôn bỏ, thả long hết cho tâm vắn lặng gọi là ĐỊNH. Ngày nay nhiều người không có duyên học được trực tiếp từ các vị đắc đạo nên ta thấy nhiều pháp thiền quán cũng được gọi là của Đức Phật. Thiền không khó như nhiều “tay mơ” diễn tả trừu tượng phải căn cơ tốt hoặc phải tịnh mới thiền được. Một pháp thiền tốt (Pháp khứ trược lưu thanh) là pháp dành cho những người phàm tục, căn thấp, động loạn, đầy tánh hư tậc xấu như chúng ta nhưng có tâm tu đạo, cầu tiến, nếu bắt được sẽ cải thiện được con người bạn đi đến chân thiện mỹ ...và xa hơn nửa là ĐẠO. Xin nhớ cho đạo không có trong sách vở, internet, ... nên không thể tìm được bên ngoài bạn mà chỉ luận theo ý nghĩa của một ngôn ngữ này hoặc nọ thôi cho dù dịch qua ngôn ngữ nào cũng lòng vòng trong lý luận. Pháp Thiền tốt chỉ đòi hỏi sự thành tâm và dày công liên tục của hành giả.
Các nhà thiên văn học nhìn vào vũ trụ thấy nhiều hành tinh xa gần khác nhau. Thế gian có nhiều loại xe được các hãng sản xuất nhiều hiệu xe nhiều kiểu khác nhau. Mỗi ngày một mới đẹp tốt hơn. Thế gian còn chế được chiếc điện thoại model mới tốt đẹp, Thiên đàng, Trời, Phật không lẽ không cho ra được một Pháp Thiền tên mới dễ hành và hiệu nghiệm hơn hay sao? Ngày xưa Đức Phật Thích Ca truyền pháp cũng bị các tôn giáo có trước gọi là tà. Kỳ thật ngài nhìn thế gian tứ khổ mới đi tu và cuối cùng tìm được pháp thiền là pháp tu đi đến ĐẠO ĐỨC và để lại cho ta ngày nay chứ không phải Đạo A, đạo B, hay đạo C. Trong kinh cũng cho biết có hằng hà sa số Phật nhưng lý do ta biết nhiều đến Đức Thích Ca là vì ngài gánh trách nhiệm độ đời. Chứ có nhiều Phật lắm nhưng các vị kia không mang trách nhiệm vào thời kỳ đó. Qua nhiều thời kỳ, các vị Phật khác nhau độ đời với pháp danh khác nhau và truyền lại pháp thiền với tên mới. Cho dù hình thức có chút ít khác xưa để thích hợp với thời hiện tại tuy nhiên căn bản thì vẫn như nhau. Ví dụ xe hơi nào cũng chạy 4 bánh. Các bạn có thấy hai xe khác hiệu chạy trên cùng một con đường chưa? Những chiếc phi cơ cùng tuyến đường bay từ Nội bài và đáp xuống cùng một phi trường Tân Sơn Nhất. Pháp Thiền ngày nay cũng vậy, tuy là hai pháp khác nhau nhưng vẫn đạt cùng kết quả mỹ mãn như nhau.

Vậy nếu chúng ta bỏ đi tánh thị phi, đố kỵ, bảo vệ pháp chúng ta là thiên hạ đệ nhất thì may ra sẽ có duyên ngộ được Phật Pháp. Cũng như hiệu xe mới tốt đẹp hơn, Phật Pháp thời này dễ hành hơn, hiệu nghiệm hơn. Chỉ rất tiếc chúng ta không mở tâm đón nhận và ngược lại vô tình phỉ bán là tà đạo và ôm chấp cái mà ta cho là số một đã bị người bóp méo theo thời gian. Theo xoay vần của vũ trụ, các vị Phật khác, Chúa khác vẫn độ đời qua các thời kỳ khác nhau với tên Pháp khác nhau phù hợp thời đại mới. Mến chúc các bạn sớm ngộ duyên gặp Pháp đúng đắn cho chính mình
Thiện Huệ 13/01/2010 21:43:41
Bài viết rất hay!Mong các bạn hãy thực hành. Tuy "Thiền quán"& "Thiền định" có sự khác nhau, nhưng sự liên kết của chúng thì các bạn chưa phân biệt được.Nếu các bạn có thực hành, các bạn sẽ phải quan tâm đến điều đó; và Đức Thích Ca Mâu Ni cũng mong các bạn thực hành là chủ yếu! Sự phân biệt của các bạn trong thời "Mạt Pháp" này là hợp lý. Tôi là người mới biết tới Web, mới vào trang này lần đầu tiên nên có nhiều kỹ thuật sơ đẳng trên web còn chưa biết,hy vọng sau này có thể góp ý kiến cho các bạn về vấn đề thực hành dựa trên kinh nghiệm bản thân và những cơ may gặp được.
CPT 30/07/2009 13:12:32
Bài viết làm cơ sở cho 2 ý kiến phản hồi rất xác đáng. Hoan nghênh quý vị!!
Tôi là đọc giả hàng ngày của trang PTVN, thỉnh thoảng gặp được những bài viết như thế này thì thật là không "phí" thời gian của mình.
Phân tích sự khác nhau giữa "Thiền định" và "Thiền quán" thật là hay. Đạo Phật là đạo của sự thật, của thực tại. Nên thiền quán là gắn liền với thực tại, quán sát và thấu hiểu thực tại. Còn những "pháp môn" khác tôi cảm giác như muốn trốn tránh thực tại, mặc dù thân chúng ta thì còn nằm ngay trong thực tại.
Nhờ quý vị mà tôi ngộ thêm nhiều vấn đề.
Trân trọng.
Hồng Ánh 24/07/2009 05:26:37
Tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến của tác giả bài viết và của lan phuong. Trong công việc, tôi tiếp xúc với nhiều người nước ngoài và có điều kiện kết bạn với vài người, tôi luôn tranh thủ giới thiệu Phật giáo với người nước ngoài mỗi khi có dịp do quá ngưỡng mộ tôn giáo của mình.

Vài năm trước đây, tôi cũng mang trong tôi một niềm tin là thiền là một sản phẩm độc quyền của Phật giáo và thiền nào cũng là thiền của Phật giáo cả (giống như bạn lan phuong nói).

Tôi tu niệm Phật và đọc rất nhiều sách về pháp môn Tịnh Độ, trong đó ca ngợi rằng pháp môn Tịnh độ là một pháp môn thù thắng (hoặc siêu thắng) xuyên suốt ba tông: Thiền, Giáo, Luật. Pháp môn Tịnh độ là con đường tu tắt, con đường ngắn nhất để đi đến giải thoát vì bạn tu thiền thì khi chết có thể sinh về cõi trời, hết phước thì đọa xuống lại, có khi phải đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh… Còn tu Tịnh độ thì khi chết bạn sẽ sanh về cõi Phật (thậm chí còn được đới nghiệp vãng sanh), tu cho đến khi thành Bồ tát bất thối chuyển, rồi xuống cứu độ chúng sanh, cứu độ chúng sanh xong thì thành Phật…Đối với tôi lúc đó, chẳng có pháp môn nào hay hơn pháp môn niệm Phật.

Do suy nghĩ như vậy nên khi giới thiệu đạo Phật cho người nước ngoài cũng như giới thiệu cho họ pháp môn tu tập, tôi luôn chọn pháp môn niệm Phật. Cách đây khoảng hai năm, tôi đã bị hố to khi tôi trao đổi và giới thiệu Phật giáo với một người bạn là người Anh sống ở Úc. Alex Hughes ta là một người theo Thiên chúa giáo, theo tôi đoán thì anh ta là người tương đối ngoan đạo vì anh ta biết rất nhiều về tín ngưỡng mà anh ta theo.

Sau khi nghe tôi giới thiệu cách niệm Phật xong anh ta nói với tôi rằng những cái mà tôi chỉ cho anh ta chẳng có gì đặc biệt cả, rất nhiều tín đồ Thiên chúa giáo ngồi thiền hoặc lần chuỗi hạt và niệm chúa (như phật tử niệm Phật), mục đích của họ là nhắm đến một thiên đàng sau khi chết cũng giống như phật tử nhắm đến cõi Cực lạc sau khi chết vậy. Do tôi tỏ ý không tin nên anh ta đã lấy một số tài liệu lấy về thiền của Thiên chúa giáo từ internet đưa cho tôi xem để chứng minh.

Khi nói đến vấn đề giải thoát của đạo Phật, anh ta tỏ ý nghi ngờ nói rằng tại sao hai cách tu tập cũng giống nhau, mà đạo Thiên chúa thì bị cho là không giải thoát trong khi đạo Phật lại tự cho mình là đưa đến giải thoát? Anh ta kết luận rằng, đạo nào cũng nói quá để tự quảng bá cho đạo của mình, thiên đường của Thiên chúa giáo và cõi Cực lạc của Phật giáo đều như nhau thôi, nếu tu tập cùng một kỹ thuật giống nhau như vậy mà phật tử được giải thoát thì tín đồ của Thiên chúa giáo cũng được giải thoát.

Tôi bực lắm nhưng không cãi được vì những lý lẽ anh ta đưa ra tôi không bác bỏ được. Tuy nhiên, cũng nhờ lần xảy ra sự cố đó nên tôi bắt đầu lên internet và đánh từ khóa “Buddhist meditation” để tìm hiểu về thiền của Phật giáo và từ đó hiểu rằng thiền của Phật giáo chính là thiền quán, riêng thiền định thì hầu như tôn giáo nào cũng dựa trên kỹ thuật tu tập này để lắng tâm và hiệp thông với “Chúa, Thượng đế” của họ.

Tôi phải kể lễ dông dài như vậy để chứng tỏ cho các bạn thấy rằng đúng như bạn phuong lan nói, thiền quán là bản sắc của Phật giáo. Nếu không có thiền quán, Phật giáo sẽ trở thành một tôn giáo giống như tôn giáo khác (về mặt tu tập), và nếu tôn giáo họ không đạt được sự giải thoát thì Phật giáo cũng không thể nào nằm trong sự ngoại lệ.

Tôi nói kinh nghiệm của mình không nhằm đã kích một pháp môn tu tập nào, chỉ để chứng minh cho sự thật mà tôi ủng hộ mà thôi. Nếu phản hồi của tôi có đụng chạm đến pháp môn tu tập của các bạn nào đó thì tôi tin rằng các bạn cũng sẵn sàng bỏ qua vì chúng ta là phật tử, những người đi tìm chân lý mà đạo Phật là đạo của sự thật. Điều tôi mong mõi là phật tử chúng ta sẽ dành một chỗ đứng xứng đáng, trân trọng cho thiền quán để đền đáp công ơn cao dày của đức Phật và đồng thời góp sức phổ biến thiền quán để pháp bảo được cửu trùng.
lan phuong 22/07/2009 16:38:50
Tôi có dịp dịch một số tài liệu Phật giáo từ tiếng Anh sang tiếng Việt và tôi ủng hộ quan điểm của tác giả là khi nói về “ thiền Phật giáo, nên tránh dùng chữ “thiền” chung chung, mà nên dùng chữ “thiền-định” hay “thiền-quán” để thật rõ nghĩa”.


Thiền hay thiền định nói riêng không phải là một phương pháp tu tập của riêng Phật giáo mà là của hầu hết các tôn giáo trên thế giới (để kiểm chứng bạn có thể lên google gõ các từ khóa như “Christian meditation” hoặc ‘Muslim hoặc Islamic Meditation” hoặc bạn có thể vào http://vietwellness.net/?p=69 để thấy đọc để thấy thiền của Kitô giáo chẳng có sự khác biệt gì so với một số dạng thiền định đang được rất nhiều phật tử thực hành).

Thiền quán là một pháp môn tu tập của Đức Phật Thích Ca, do chính Ngài dạy cho các đệ tử của Ngài, thiền này mới chính là thiền của Phật giáo.

Để phân biệt thiền của Phật giáo với thiền của các tôn giáo khác, các bản viết bằng tiếng Anh thường không viết là thiền (meditation) một cách chung chung mà viết rất rõ ràng là Buddhist meditation, Vipassana, hoặc mindfulness meditation khi họ nói đến thiền Phật giáo.

Ở Việt Nam, đa số các người viết thường thường dùng từ “thiền” hoặc “thiền định” khi nói về thiền của Phật giáo ( do nhiều người nghĩ rằng chỉ có Phật giáo mới có thiền và vì vậy thiền nào cũng là thiền của Phật giáo cả!) thậm chí có người còn dùng luôn cả từ “thiền định” trong khi ý của họ đang nói về thiền quán. Tôi cho rằng đây là một sự đánh đồng không nên có giữa thiền định và thiền quán.

Do kỹ thuật để thực hành thiền định và thiền quán khác nhau nên kết quả do hai loại thiền này đem lại cũng không giống nhau. Mục đích của thiền định là trụ tâm lại một chỗ để tâm được an tĩnh, vắng lặng trong khi mục đích của thiền quán là quan sát tỉ mỉ các đối tượng, hiện tượng đang hiện hữu, diễn biến, xảy ra trong thân và tâm để thấy tính duyên hợp, vô thường, vô ngã và khổ của chúng để qua đó đạt đến sự Giác Ngộ, chấm dứt của tất cả mọi khổ đau.

Khi mới xuất gia, Đức Phật Thích Ca thực hành thiền định do các vị thầy Bà La Môn chỉ dạy, mặc dù đã đạt tới định Phi phi tưởng xứ, nhưng Ngài vẫn bỏ vì Ngài thấy rằng định Phi phi tưởng xứ tuy rất thâm sâu nhưng vẫn không giúp chúng sanh giải thoát, chấm dứt được sinh tử.

Sau đó Ngài đã thử đi tìm sự giải thoát qua việc thực hành nhiều cách tu khổ hạnh. Ngài đã tự hành hạ xác thân Ngài quá mức đến nỗi nó gần chỉ còn là bộ xương và cuối cùng là hoàn toàn kiệt sức và có thể sẽ chết nếu không có bát sữa của nàng Sujata dâng cho Ngài. Tuy vậy việc thực ép xác vẫn không giúp Ngài tìm được con đường giải thoát.

Sau đó Ngài ngồi dưới cây Bồ Đề và thực hành thiền quán, là một phương pháp thiền do chính Ngài khám phá ra, trong 49 ngày và cuối cùng Ngài đã đạt đến sự Giác Ngộ, tìm ra con đường chấm dứt sinh tử.

Phải trình bày rõ ràng như vậy để thấy rằng nếu chúng ta đánh đồng thiền định và thiền quán, có nghĩa là chúng ta không coi trọng, hay nói thẳng ra là xem thường, sự hy sinh quá sức lớn lao của Đức Phật trong sáu năm Ngài tu khổ hạnh, cũng như coi thường tuệ giác phi thường của Ngài khi Ngài khám phá ra thiền quán. Sự hy sinh này lẽ ra phật tử chúng ta phải tri ân, trân trọng và tự hào (vì chẳng có vị giáo chủ nào trên thế giới đã có sự hy sinh lớn lao như thế cho nhân loại), đó là chưa kể đến lòng tự hào về tuệ giác phi thường của Ngài.

Khi tôi đọc những bài viết tiếng Anh về Phật giáo, tôi thấy đa số người viết mặc dù họ có thể không phải là phật tử hoặc là chỉ là những phật tử có thể là rất mới nhưng họ luôn phân biệt thiền quán với thiền định và luôn dành cho thiền quán một vị trí đặc biệt. Đọc những bài viết của họ, tôi càng tri ân Đức Phật, càng hãnh diện vì mình có được một vị thầy cao quí như Ngài và càng tự hào về pháp môn của Ngài, một pháp môn khiến cho Phật giáo không những hoàn toàn khác biệt mà còn siêu việt trên tất cả các tôn giáo khác.

Song song với niềm tự hào là nỗi buồn, tôi không hiểu tại sao tại một đất nước có bề dày 2.000 năm theo Phật giáo mà có rất nhiều người cứ cố tình đánh đồng thiền quán với thiền định. Làm như vậy, chắng phải là chúng ta có lỗi rất lớn đối với Đức Phật hay sao?

Việc theo một phá môn tu tập nào đó là quyền của mỗi người, là một phật tử bạn nhưng bạn không muốn tu thiền quán mà chỉ tu thiền định cũng không sao, nhưng bạn phải hiểu và công nhận giá trị của thiền quán vì đó là bản sắc của Phật giáo.

Điều này cũng tương như bạn là người Việt nhưng bạn chỉ thích và nghe pop, rock, hip hop hoặc new age, đó là quyền của bạn, nhưng bạn phải hiểu và công nhận giá trị của cải lương, chèo, quan họ, các điệu lý, các câu hò v.v… vì đó là bản sắc dân tộc của chúng ta.
tổng cộng: 5 | đang hiển thị: 1 - 5
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả
Supanna dịch