Mặt trái của thiền: Đưa hành giả tới sự chối bỏ thực tại
Những lợi ích của việc hành thiền đôi khi có thể cho phép hành giả phóng đại sự quan trọng của tự ngã.
Hàng chục triệu người ở Bắc Mỹ hiện nay đang hành thiền, họ dùng sự tĩnh lặng để đối phó với những tư tưởng điên rồ quay cuồng trong tâm họ. Mục đích hầu hết của mọi hành giả là giữ cho mình tự tại giữa cuộc chiến với đời.
Thay vì để cho đầu óc bị “đày đọa” bởi những việc bất như ý, nhiều hành giả tại Canada và Hoa Kỳ có gắng “tách mình” khỏi những càm xúc và sự bốc đồng, vì họ nghĩ rằng làm như vậy sẽ giúp họ thoát khỏi khổ đau.
Một cuộc thăm dò ý kiến gần đây của Vancouver Sun do Mustel Group thực hiện phát hiện rằng cứ ba người sống tại British Columbians thì có một người hành thiền, và như vậy tổng số có khoảng 1,4 triệu người ở đây hành thiền, con số này không bao gồm những người áp dụng thiền vào trong cách cầu nguyện của họ.
Tôi tin rằng thiền định và thiền quán nói chung có một ảnh hưởng tích cực đến nền văn hóa bận rộn của nền văn hóa Bắc Mỹ.
Nhưng thiền định và thiền quán và những phương pháp thực tập rèn luyện tâm liên quan - nếu khuyến khích con người tự tách mình ra khỏi những tư tưởng tiêu cực của chính họ một cách có hiệu quả - liệu dần dần có đưa hành giả đến tình trạng tự tách mình ra khỏi cuộc sống hay không?
Thiền phải chăng phù hợp với xã hội tiêu dùng của Bắc Mỹ vốn coi trọng sự yêu chuộng tự ngã, trong nền văn hóa đó ai cũng phóng đại tầm quan trọng của cái tôi và ai cũng dung dưỡng ý thức này.
Bạn nên biết về những khả năng tiêu cực mà việc hành thiền có thể mang lại.
Trong cuốn sách của mình mang tựa đề “Bí ẩn phân tâm học”, Micheal Eigen kể về hai bậc thầy trong lãnh vực hành thiền bị sa sút tinh thần, nói theo cách của ông là những người đi cắm trại nhưng không đã tìm thấy hạnh phúc.
Eigen, một nhà phân tâm học ở New York, người đánh giá cao cả Phật giáo và Do Thái giáo là tôn giáo truyền thống của gia đình, kể về một vị thầy dạy thiền đã tìm đến ông để điều trị do bị sa sút tinh thần, lo lắng và rối loạn chức năng.
Eigen gọi thân chủ của mình là “Owen”. Thân chủ của ông tin rằng vì anh ta là một vị thầy dạy thiền Phật giáo đã hiành thiền đạt tới mức viên mãn nên anh ta giỏi hơn ông, do vị bác sĩ chỉ hành thiền có nửa buổi.
Eigen bắt đầu khám phá ra rằng Owen không xuất thân từ một gia đình đau khổ. Ngược lại, anh ta rất được mẹ yêu chiều.
Owen hành thiền quán tánh “Không” của Phật giáo* và đã có một thời gian dài tận hưởng sự dễ chịu qua những buổi ngồi thiền. Eigen nói, cảm giác dễ chịu mà thân chủ ông có được qua những buổi ngồi thiền cũng dễ chịu như cảm giác được mẹ ông nuông chiều khi còn thơ ấu. Đối với Owen, “sự nuông chiều của mẹ dành cho ông theo thời gian đã được tô điểm thêm và trở thành một cảm giác dễ chịu mỗi khi ông nghĩ đến nó, và cảm giác này qua những buổi ngồi thiền đã đơm hoa kết trái trong tánh “Không ”, Eigen viết với một chút chế giễu.
Bởi vì Phật giáo của Owen dạy anh ta rằng không nên dính mắc vào những tình cảm đã được lý tưởng hóa về mẹ của mình, mà phải buông bỏ nó, tuy nhiên, Eigen tin rằng vị hành giả cũng là thân chủ của ông chưa bao giờ thực sự đương đầu với cảm giác phân đôi (giữa tình cảm yêu chiều của mẹ dành cho ông và tánh Không) này.
Nói một cách khác, Eigen tin rằng Owen qua việc hành thiền đã phớt lờ những mặt tối của tự ngã. Do không nhìn vào những mặt tiêu cực của chính mình, vị thầy dạy thiền này cho rằng mình hay và giỏi hơn những hành giả khác kể cả học trò của mình và vì vậy thường chê bai họ một cách kín đáo.
Eigen cũng thấy một động lực tương tự trong việc hành thiền ở một hành giả kỳ cựu khác. Jesse là một nhà phân tích tài chánh thành công của Wall Street, người đã tìm đến Eigen để được chữa trị triệu chứng mệt mỏi kinh niên và buồn nôn. Jesse thường suy gẫm về những khả năng của cuộc sống qua những buổi hành thiền. Eigen viết, “ Thiền gây xúc tác cho sự sáng tạo của Jess và làm tăng sự nhận nhận thức nhạy bén sẵn có trong Jess về những thay đổi bất thường của cảm giác, tâm trạng và cảm xúc.”
Mặc dù Jesse là một người dễ thương trông có vẻ cởi mở, nhưng trong quá trình thường xuyên đi tìm cái mới, anh ta trở nên lãnh đạm với phụ nữ và người chung quanh. Eigen nói rằng do cảm thấy người khác là mối đe dọa cho mình, Jesse đã cảm thấy cần phải kiểm soát họ, hành thiền đối với Jesse là một cách bảo vệ giúp anh không bị chi phối bởi những người chung quanh.
Jesse tham dự các trung tâm thiền trong nhiều năm nhưng Eigen tin rằng việc hành thiền đã quẳng Jesse trở lại, đối diện con người thật của chính mình. Cuối cùng, thứ mà Jesse cần là hành thiền ít hơn và tiếp xúc với người chung quanh nhiều hơn.
Eigen nói, “ Jessie cần sự giao tiếp thông thường giữa người và người chứ không phải sự giải thoát.”
Kết hợp trường hợp của Owen và Jessie với nhau, Eigen tin rằng cả hai đều tự làm chính mình tổn thương qua việc dùng thiền như một phương cách để trốn chạy người chung quanh.
Eigen nói rằng các hành giả này đã không thể tự hòa nhập mình vào những đau khổ của tự thân cũng như những sự bất như ý không thể tránh được trong đời sống. Do quá tập trung vào cuộc sống nội tâm, cả Owen và Jessie đã không tạo cho người chung quanh cơ hội để “chuyển hóa” họ.
Ken Wilber, một nhà tư tưởng khác đang làm một công việc phức tạp là kết hợp phân tâm học, Phật giáo, Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và triết học với nhau, cũng cảnh báo người dân Bắc Mỹ vể việc xem thiền như là một giải pháp tốt đẹp cho tất cả mọi sự.
Mặc dù Wilber cũng hành thiền, ông ta than phiền rằng thiền tại Hoa Kỳ và Canada thường đi kèm với thái độ mà ông ta gọi là “ hiểu Phật giáo một cách phóng khoáng theo quan điểm hiện đại, ai cũng yêu tự ngã của mình hết mực mà chẳng hề quan tâm thắc mắc tại sao.”
Wilber nói rằng nhiều người ở lứa tuổi trung niên tập tễnh hành thiền theo quan điểm này thường ham hố ôm đồm nhiều nhiệm vụ do họ quá đơn giản hóa sự việc, cho rằng mọi việc đều tương đối và quan niệm rằng, “Bạn làm công việc của bạn và tôi làm công việc của tôi.”
Thiền, Wilber nói, theo quan điểm đó tất nhiên đã không giúp những kẻ ái ngã đo đương đầu với những mặt tối trong tâm hồn họ, những mặt tiêu cực trong nhân cách họ.
Thay vào đó, Wilber nói, khi những vị thiền sư Đông phương nói với các học trò của mình rằng, “ hãy giết tự ngã”, điều này có thể dẫn đến sự nguy hiểm cho học trò của mình vì những người này có thể vin vào lời dạy đó để không nhìn thẳng vào những mặt tiêu cực của con người mình.
Trong cuốn sách của mình ” Tâm linh tổng hợp: Một vai trò mới đáng chú ý của tôn giáo trong thế giới hiện và cận đại" (Integral Spirituality: A Startling New Role for Religion in the Modern and Postmodern World) Wilber viết rằng thiền vì vậy đối với nhiều người trở thành một tiến trình vượt lên và chối bỏ tự ngã hơn và vượt lên và nhập vào tự tánh.
Giáo huấn từ phương Đông dạy rằng người ta không nên có “tự ngã”, quan niệm này được Eckhart, một giáo sư tâm linh tại Vancouver và nhiều người khác tán đồng. Tuy nhiên, Wilber nói quan niệm này khuyến khích các hành giả cố gắng giữ cho tâm mình “trống rỗng” hay nói một cách khác là không có ý niệm gì cả.
Rắc rối ở chỗ là nhiều hành giả tin rằng “trống rỗng” có nghĩa là giữ cho tâm không có ý niệm gì ngay cả đối với những vấn đề quan trọng. Wilber nói, do quan niệm cái gì cũng “không”, nhiều hành giả chẳng tin vào một cái gì hết.
Mặc dù nghĩ rằng qua việc hành thiền người ta có thể đạt đến những trạng thái tinh thần cao hơn có thể giúp cho họ trưởng thành hơn, Wilber nói rằng chẳng có gì đảm bảo rằng thiền sẽ giải phóng con người khỏi sự ngã ái.
Tôi đánh giá cao cả Eigen và Wilber khi kết luận rằng thiền có thể có lợi, nhưng đó chỉ là một phần của tất cả những gì cần phải có để giúp con người đạt đến sự trưởng thành.
Mục đích thực sự của thiền và mọi phương thức rèn luyện tinh thần khác là không phải làm cho mình tự ” rỗng không” với những cảm xúc hoặc tư tưởng tiêu cực mà phải đối mặt với những con quỷ bên trong tâm hồn chúng ta. Việc này sẽ đưa tới - theo một nghĩa nào đó - một cảm giác “trọn vẹn” giúp chúng ta gần gũi với những người chung quanh cũng như giúp chúng ta tiếp cận với những giá trị siêu việt.
Theo Wilber, thiền nên đưa tới sự phát triển những niềm tin khôn ngoan khiến hành giả phải mở lòng từ bi đối với mọi chúng sanh, và để làm được như vậy, hành giả phải phát triển một cái ngã vừa đủ khôn ngoan để có thể áp dụng lòng từ bi vào những hành động cụ thể (một cách có trí huệ).
Nói một cách khác, thiền và Phật giáo lợi lạc cho con người rất nhiều, nhưng Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và tất cả những con đường tâm linh và tâm lý khác nhấn mạnh đến sự chuyển hóa và giúp cho người sống một cuộc sống trọn vẹn nhất đều có cùng sự lợi lạc như thế.
Eigen kết luận, “ Không có một tôn giáo hoặc phương pháp trị liệu nào nắm những quân bài tốt nhất trong tất cả những ván bài.”
Hay, như Wilber kết luận, “ Thiền thì không sai, nhưng một phần nào thì có sai.”
*Thiền quán tánh "Không" được thực hành phần lớn bởi các Phật tử theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Thiền này dựa trên tinh thần của Kinh Kim Cang Bát Nhã.
Thiền Tứ Niệm Xứ (Vipassana) là thiền quán do chính Đức Phật Thích Ca dạy cho các đệ tử của Ngài vẫn còn ghi lại trong Kinh Tứ Niệm Xứ. Trong thiền Vipassana, hành giả quán thân, thọ, tâm và pháp.
Người dịch: Supanna
Theo: The Vancouver Sun
Các tin khác
- Thực trạng nghi lễ PG hiện nay: Lễ rước vong lên chùa - Phần 1 (12/08/2009 14:21)
- Yếu tố tâm linh trong tư tưởng Hồ Chí Minh (07/08/2009 00:33)
- Vì sao đạo Phật suy tàn tại Ấn Độ ? (Tiếp theo và hết) (03/08/2009 22:05)
- Vì sao đạo Phật suy tàn tại Ấn Độ ? (Phần 1) (03/08/2009 21:50)
- Từ Phú-lâu-na đến Trúc Đạo Sinh, những gương hoằng pháp bi tráng (03/08/2009 11:01)
- Thiền là gì? (17/07/2009 19:51)
- Vấn đề học Phật (19/06/2009 22:28)
- Bồ Tát, Lý tưởng trong Phật giáo (14/05/2009 00:44)
- Nhân mùa Phật đản, đọc kinh Thừa tự Pháp (02/05/2009 16:04)
- Phật Giáo Dưới Góc Độ Hiện Đại và Hậu Hiện Đại (tiếp theo) (01/05/2009 20:48)
Đánh giá bài viết
Thông tin tác giả
Supanna dịch
|
|
Thần chú của Mật Tông (Phần 1)
27/05/2007 12:13 |
|
|
Tiến trình giải thoát của đức Phật khi Ngài thành đạo
19/05/2006 00:00 |
|
|
Trao đổi về “hiện tượng” Hòa thượng Thích Thông Lạc, kỳ 1
17/12/2010 11:09 |
|
|
Thiền là gì?
17/07/2009 19:51 |
|
|
Thực trạng nghi lễ PG hiện nay: Lễ rước vong lên chùa - Phần 1
12/08/2009 14:21 |
|
Đức Phật của chúng ta - HT.Thích Minh Châu
28/04/2006 18:45 |
|
|
Vì sao đạo Phật suy tàn tại Ấn Độ ? (Tiếp theo và hết)
03/08/2009 22:05 |
|
|
Đắc quả thời hiện đại
08/03/2009 11:04 |
|
|
Ái và vấn đề đoạn Ái
16/06/2006 13:16 |
|
|
Mặt trái của thiền: Đưa hành giả tới sự chối bỏ thực tại
19/08/2009 22:39 |
- Thần chú của Mật Tông (Phần 1)
- Bồ Tát, Lý tưởng trong Phật giáo
- Trao đổi về “hiện tượng” Hòa thượng Thích Thông Lạc, kỳ 1
- Từ Bi đối thoại với Bác Ái
- Năm hình ảnh trước cửa tử
- Ái và vấn đề đoạn Ái
- Mặt trái của thiền: Đưa hành giả tới sự chối bỏ thực tại
- Quan điểm của đạo Phật
- Ý nghĩa bảy bước sen
- Đạo nghĩa vợ chồng theo quan điểm Phật giáo
Đánh giá cao nhất
- Tường thuận Tang lễ Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam- Đại lão Hoà thượng Thích Đức Nhuận (21/05/2006 10:28)
- Thông cáo đặc biệt Hướng dẫn Tổ chức Lễ truy niệm Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam (27/06/2006 09:09)
- Đạo Phật và Mô hình giáo dục con người toàn diện (14/07/2006 11:42)
- Hình ảnh ngày đầu tổ chức Đại Giới Đàn tại TP. Hồ Chí Minh (28/11/2006 22:22)
- Ghi nhanh và hình ảnh: CLB Thanh niên Phật tử Việt Nam tại miền Bắc bầu ban chủ nhiệm (17/12/2006 08:07)





Facebook
Twitter
Google

Ngồi trong tĩnh lặng, quán sát thực tại, rồi trở lại sống chung với thực tại, chứ không phải trốn tránh thực tại.
Nếu thiền mà muốn trốn thực tại thì có lẻ do quan niệm không đúng.
Những hình thức cầu nguyện, van xin, mơ tưởng về một cảnh giới nào đó mới đúng là "chối bỏ thực tại", muốn trốn chạy khỏi thực tại, nhưng đâu có thoát đi đâu được.
Người viết là nhà báo Douglas George Todd, chuyên viết những bài về tâm linh và tôn giáo cho các tờ báo Bắc Mỹ, cho nên ông (cũng như đa số mọi người) không có khả năng phân biệt những quan điểm đúng hoặc sai về mục đích của thiền, pháp hành thiền, những chướng ngại khi hành thiền.
Thiền là gì? Người nói tiếng Anh thường đồng hóa tất cả các loại thiền bằng một chữ “meditation”, cho nên người nói và người nghe đều vô tình qui ước rằng meditation có cùng một ý nghĩa, một phạm trù. Thực sự không có một loại THIỀN duy nhất, mà có vô số loại thiền khác nhau về nội dung, cứu cánh, phương pháp hành thiền và cả những chướng ngại (tác dụng phụ) khi hành thiền.
Tôi nghĩ là tại khu vực Bắc Mỹ, người ta chỉ biết loại “thiền tránh stress” và “thiền phục hồi sức khỏe”. Có lẽ những loại thiền này mới xuất hiện từ đầu thế kỉ 20 tại  mỹ mà thôi. Ngay tại Santa Ana, sáng nay đọc báo thấy thứ bảy này có một chùa tổ chức buổi nói chuyện về “Thiền tánh không” để phục hồi stress!
Người ta thản nhiên và ngây thơ đem thiền với mục đích giải thoát của Bà La Môn giáo hay Phật giáo để làm phương pháp trị liệu stress trong đời sống đua tranh của thế kỉ vật chất này. Người ta hi vọng rằng năng lực của thiền có thể đè bẹp và tiêu diệt được cái Libido đang cuồn cuộn chảy giữa dòng đời náo nhiệt này. Chuyện này có thế ví dụ như một người cố uống một loại thuốc trị bệnh nổi tiếng nào đó để trị bất cứ bệnh gì mà mình mắc phải? Tác dụng phụ xảy ra là chuyên hiển nhiên phải có!.. Chướng ngại là điều chắc chắn phải gặp!
Bài viết của Douglas Todd có dẫn chứng trường hợp này, trường hợp kia v.v… để chứng minh rằng thiền là bất lực hoặc không đủ để giải quyết sự bình ổn tâm và tránh stress. Điều này hiển nhiên là đúng rồi, chỉ những người thiếu hiểu biết mới tin rằng loại “thiền chống stress tự chế hiện nay” có khả năng chống stress như mong muốn của con người trong xã hội căng thẳng hiện nay.
Tôi không hiểu biết nhiều về các loại thiền Bà La Môn, mà các đạo sư Ấn Độ mang sang Tây phương thời gian gần đây. Nhưng Thiền theo kinh điển Nikaya của Original Buddhism chưa bao giờ nói về một nội dung chống stress như một số người hiện nay từng lầm tin như vậy. Đạo Phật không có cứu cánh chống stress. Đạo Phật Nguyên Thủy có một nhãn quan rộng lớn hơn về ý nghĩa đời sống, bản chất cuộc sống và cứu cánh giải thoát. Đạo Phật có phương pháp tu tập đúng để thực hiện cứu cánh giải thoát mà nó đặt ra. Tu tập trong Đạo Phật Nguyên Thủy chính là một pháp thực hành thiền rất đặc thù. Thiền (bhavana) không cùng ý nghĩa với thiền (meditation) mà người tây phương đang dùng một cách mơ hồ.
Không nên kì vọng chữa stress hiệu quả bằng một loại thiền (meditation) nào đó mà mình không hiểu rõ. Phải tìm đến một chân sư để được khai mở một cái nhìn mới về thế giới, thân phận con người, bệnh tật nói chung và stress nói riêng. Sau đó nên thực hành một loại thiền mà bạn biết chính xác. Ví dụ một người Phật tử thì nên tìm một pháp thiền nào đó chắc chắn do Đức Phật truyền dạy. Trên con đường thực hành, đau khổ sẽ giảm, dĩ nhiên stress cũng sẽ giảm. Có thể bạn không đi được đến “giải thoát cuối cùng” như Đức Phật và các vị A la Hán, nhưng giải thoát khỏi stress là điều có thể.
Tôi thấy tác giả thật sự không có cái nhìn toàn diện về Thiền cho lắm, ý tôi muốn nói là tác giả chỉ nhìn rất phiến diện!
Có thể nói, bài viết trên rất yếu về PHƯƠNG PHÁP LUẬN. Đây là một sai lầm rất lớn của tác giả! Phương pháp luận của tác giả này chỉ là Phân tâm học, và Tâm lý học thông thường. Hệ phương pháp luận trên chỉ gặp gỡ chút ít với phương pháp luận Phật giáo mà thôi. Chúng chỉ giúp cho con người thoát khỏi một số khủng hoảng tâm lý thông thường,thật sự chúng không thể đưa con người đến sự giác ngộ triệt để được!
Do vậy, tôi thấy bài viết của tác giả rất thiếu tính khoa học.
Thú thật, xin lỗi tác giả, tôi thấy bài viết của ông tầm thường quá (nếu không muốn nói là tầm phào)! Đáng thương cho tác giả không biết gì về Phật pháp cả!
Rất tiếc là tôi quá bận! Nếu điều kiện thời gian cho phép, chắn chắn tôi sẽ làm rõ vấn đề này với tác giả!
Trong thiền quán, bạn chỉ đóng năm căn, chừa lại “ý căn” để thay cho mắt, tai, mũi, lưỡi và thân ghi nhận những gì xảy ra trong tâm, thân hoặc bối cảnh chung quanh bạn. Do luôn theo dõi để ghi nhận những diễn biến xảy ra trong quá trình hành thiền, hành giả khi thực hành thiền quán, do vậy, mặc dù vẫn ở trang thái định nhưng vẫn luôn tỉnh thức, gắn liền với thực tại chứ không tách rời thực tại.
Trạng thái định của thiền định có sự nguy hiểm vì khi tâm đã đạt tới một mức độ yên ổn nào đó, hành giả sẽ thấy an lạc và hạnh phúc và do đó sẽ phát khởi tâm lý muốn duy định trạng thái an ổn đó mãi, vì khi thoát ra trạng thái vắng lặng của tâm để đối mặt với phiền não ở đời có nghĩa là họ phải đối mặt với những đau khổ tham ưu ở đời.
Nếu xem thiền định như một phương cách để đối trị phiền não thì thiền định có thể xem như một liều thuốc an thần, giúp cho hành giả có thể tạm thời quên hoặc đè nén khổ đau trong một thời gian nào đó vì trước sau gì, dù muốn hay không, hành giả cũng phải lại đối mặt với thực tại, và lúc đó hành giả cũng có thể bị “shock”, đó là là trường hợp của Owen và Jesse trong bài viết.
Ngài Ajahn Chan cũng đã đề cập đến những nguy hiểm của thiền định trong bài thuyết pháp của Ngài với tựa đề “Về những nguy hiểm của trạng thái định” (Văn hóa Phật giáo số 78 ngày 01/04/2009)
Thực hành thiền quán là giữ cho tâm tỉnh thức để quan sát tỉ mỉ các đối tượng, hiện tượng đang sanh diệt từng sát na xảy ra trong thân, tâm và chung quanh để thấy tính duyên hợp, vô ngã đưa đến vô thường và khổ của mọi sự. Hành giả thực thiền quán hành giả do vậy không bị tách rời khỏi thực tại mà còn sống trong thực tại, sau khi quán sát để nhìn rõ thực tướng của vạn pháp không gì ngoài ba tướng khổ, vô thường và vô ngã, hành giả sẽ không còn vướng vào cái tôi của mình nữa từ đó sẽ không còn bị chế ngự bởi các đau khổ do phiền não tham, sân, si gây ra. Thiền quán về mặt này, không những có thể đối trị phiền não mà còn có thể nói là diệt trừ tận gốc của phiền não.
Bạn không cần phải thực hành thiền định để đạt được định rồi mới chuyển qua tu thiền quán. Thời gian đầu bạn có thể tu thiền định để tập cho tâm lăng xăng của gom lại một chỗ, khi tâm của bạn đã tương đối yên, bạn có thể chuyển qua chỉ quán song tu. Thiền định chỉ được xem như giúp cho hành giả đi đỡ một đoạn đường. Phải có tu tập thiền quán rồi và so sánh với thiền định, bạn mới thấy được sự vượt trội của pháp môn thiền quán và trí tuệ siêu việt của Đức Phật. Không phải tự dưng mà Đức Phật Thích Ca được xưng tán là Thầy của trời và người.
Tôi đánh giá cao bài viết của tác giả vì nó nêu được nhược điểm của thiền định. Wilber và Eigen tuy có hành thiền nhưng tôi chắc rằng thiền giả đã không thực hành thiền quán (Vipassana của Phật giáo). Nếu hai người này có thực hành Vipassa, tôi tin rằng họ sẽ nhận định về thiền Phật giáo theo một cách khác chứ không phải cho là “Nói một cách khác, thiền và Phật giáo lợi lạc cho con người rất nhiều, nhưng Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và tất cả những con đường tâm linh và tâm lý khác nhấn mạnh đến sự chuyển hóa và giúp cho người sống một cuộc sống trọn vẹn nhất đều có cùng sự lợi lạc như thế” hay “Không có một tôn giáo hoặc phương pháp trị liệu nào nắm những quân bài tốt nhất trong tất cả những ván bài.”
Trong thời Đức Phật, có một đại Sư tên Potthila nổi tiếng uyên thâm kinh điển, là vị thầy của 18 nhóm đệ tử khác nhau. Nhưng chỉ thuyết pháp thôi mà không thực hành gì về những điều mình giảng dạy. Đức Phật biết vậy nên muốn khuyến cáo vị nầy. Mỗi khi Sư Potthila đến thăm Ngài, Ngài thường nói: "Đại đức Potthila rỗng không đấy à?" hay "Hãy ra về Đại đức rỗng không!". Vị Sư nghe vậy, thầm nghĩ "Ta vốn là một pháp Sư biện tài vô ngại và tinh thông kinh điển, đã giáo hóa cho biết bao nhiêu đệ tử trong biết bao nhiêu năm nay, nhưng tại sao Đức Bổn Sư lại gọi ta là 'rỗng không'?. Chắc là Ngài ngụ ý ta không thực hành giáo pháp. Vậy ta phải làm theo tôn ý của Ngài".
Sáng sớm hôm sau, không cho ai biết, Sư ra đi cùng với người đệ tử cuối cùng của Sư đến một tu viện thật xa có 20 vị tỳ kheo A la hán thường trù ở đó. Quyết tâm tu tập, Sư đến vị trưởng lão tu viện, thỉnh cầu Ngài chỉ dạy thiền. Vị nầy trước kia vốn cũng là đệ tử của Sư, trả lời rằng "Đại đức là người làu thông kinh điển, lẽ ra tôi đây mới là người thỉnh giáo Đại đức, làm sao tôi có thể chỉ dạy cho Ngài?". Mặc dầu Sư cố sức nài nỉ nhưng vị nầy cũng không nhận vì thấy Sư Potthila còn ngã mạn rất cao. Sau đó Sư thỉnh cầu các vị khác nhưngg ai cũng từ chối. Cuối cùng Sư phải xin một vị sa di A la hán mới 7 tuổi dạy thiền. Vị nầy nói "Tôi chỉ là một sa di làm sao dám dạy Sư. Nhưng nếu quả thật Sư quyết chí muốn học, Sư phải chịu tuân theo lời yêu cầu của tôi". Sư nói dù có phải nhảy vào lửa, Sư cũng tuân theo.
Hai người đi đến một hồ nước. Vị sa di bảo Sư Potthila để nguyên y áo dầm mình xuống nước. Sư Potthila sẵn sàng làm theo. Vị sa di biết Sư Potthila đã chịu dẹp bỏ cái ngã của mình rồi nên mới bắt đầy dạy Sư hành thiền. Vị sa di nói: "Giả sử một gò mối có 6 lỗ. Nếu có một con cắc kè chui vào gò mối nầy và Sư muốn bắt nó ra, Sư phải đóng bớt 5 lỗ, chỉ chừa một lỗ, Sư sẽ theo dõi lỗ đó để bắt cho được con cắc kè. Cũng như vậy, khi hành thiền Sư phải đóng 5 cửa giác quan lại, chỉ chừa một cửa để theo dõi đối tượng mà thôi".
Đại đức Potthila vốn tinh thông giáo pháp nên hiểu ngay ngụ ý của vị sa di. Sư đi đến một nơi thanh vắng để hành thiền. Lúc đó Đức Phật dùng hào quang phóng đến nơi Sư đang ngồi thiền cùng với câu kệ sau:
"Tu thiền trí huệ sanh
Bỏ thiền trí huệ diệt
Hãy tự mình nỗ lực
Khiến trí huệ tăng trưởng"
(Câu 282, kinh Pháp Cú)
Do đầy đủ phước trí và Ba-la-mật nên khi câu kệ vừa chấm dứt thì Sư Potthila đắc được đạo quả giải thoát A la hán.
Trí huệ thực sự chỉ có thể phát sanh từ công phu tu hành, và từ kinh nghiệm thực chứng, chứ không từ sự nghe, đọc giáo pháp, không phải là những kiến thức vay mượn từ các lời giảng, sách vở hay kinh điển. Cho nên muốn thực có Giác ngộ, giải thoát, ta không thể không hành thiền.
Làm cách nào để đóng 5 cửa giác quan?
Đóng lại ở đây có nghĩa là không để cho các tâm bất thiện có điều kiện chen vào các cửa giác quan nầy, khi ta thấy hình ảnh nào, nghe một âm thanh hoặc ngửi nếm đụng chạm một vật gì. Ý nghĩa trọn vẹn nhất của việc thu thúc ngũ quan nầy là sự ngưng lại tại cái thấy khi ta trông thấy một vật, sự ngưng lại tại cái nghe khi ta nghe một âm thanh... đừng cố gắng đi tới kinh nghiệm vật thấy hay âm thanh nghe đó.
Trong một bài kinh khác, Đức Phật có dạy "Hãy ngưng ngay ở sự thấy, sự nghe mà không để tâm đến sự phân biệt, phán đoán đối tượng". Vậy làm thế nào để đóng cửa các giác quan lại hoặc ít ra có thể ngăn chận các tâm bất thiện trong ý nghĩ đó? Thực tập chánh niệm! Đúng vậy! Với chánh niệm ta có thể đóng cửa các giác quan hoặc ít ra có thể ngăn chận các tâm bất thiện sanh khởi qua các cửa đó. Vậy thiền minh sát có khả năng thu thúc được ngũ quan để tâm có thể theo dõi hữu hiệu ở cửa thứ sáu là cửa của tâm ý.
Gửi phản hồi của bạn