Về lập trường của Triết học Phật giáo

Tạp chí Giáo dục & Thời đại số 12 (ra ngày 18/ 3/ 2012) có đăng bài Ngày xuân nói chuyện chữ “TÂM” của tiến sĩ Ngô Thị Lan Anh (Khoa Giáo dục Chính trị trường ĐHSP Thái Nguyênng?

Mặc dù tiêu đề là “nói chuyện chữ Tâm” nhưng nội dung bài viết tác giả chỉ bàn đến chữ “Tâm” trong Phật giáo, do vậy, chúng tôi cũng chỉ trao đổi trong phạm vi giới hạn của bài viết, đặc biệt về bản chất lập trường, quan điểm của Triết học Phật giáo.

Như chúng ta đã biết, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà nó còn là một hệ thống triết học – văn hóa  - đạo đức - lối sống có ảnh hưởng cực kì sâu rộng không chỉ trong tiến trình lịch sử tư tưởng triết học mà còn trong mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội của các nước Phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Như vậy, việc hiểu chính xác những phạm trù, khái niệm căn bản của Triết học Phật giáo (cũng như khi muốn tìm hiểu bất cứ hệ thống triết học nào khác) là việc làm không thể thiếu trước khi bàn, nhận định về nó. Xét cả trên hai phương diện bản thể luận và nhận thức luận, “Tâm” là phạm trù căn bản của Triết học Phật giáo. 

1. Tác giả đúng khi ngay từ đầu bài viết đã khẳng định: “trong Phật giáo, “Tâm” là một nội dung quan trọng, góp phần tạo nên giá trị văn hóa Phật giáo. Triết lí về “Tâm” trong Phật giáo có ý nghĩa sâu sắc, đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống đạo dức của con người Việt Nam trong quá khứ cũng như trong hiện tại và có lẽ cả sau này”; và “Khái niệm “Tâm” trong Phật giáo rất rộng và có nhiều khía cạnh, cấp độ, trình độ”.

2. Có lẽ để dễ hiểu, dù tác giả đã nêu lên 6 “cấp độ về “Tâm”” nhưng người đọc vẫn thấy thiếu thuyết phục, cảm thấy tác giả thiếu “khái niệm công cụ” khi giải thích phạm trù “có nhiều khía cạnh, cấp độ” này. Và ở đây dường như tác giả đã không phân biệt được sự khác nhau khi dùng phạm trù Tâm trong Bản thể luận và Nhận thức luận của Triết học Phật giáo. Thực ra, trong Bản thể luận của Triết học Phật giáo, Tâm là cái “không thể nghĩ bàn” (Bất khả tư nghị), từa tựa như “Vật tự nó” trong triết học của I. Kant (1724 – 1804); còn trong Duy thức học Phật giáo, Tâm là thức thứ 8 (A-lại-da thức) trong 3 tầng của nhận thức (Tâm – Ý – Thức). Cũng chính vì vậy mà ở phần này tác giả đã lẫn lộn “Tâm” với tư cách là một phạm trù triết học (như đã nói ở trên) và “Tâm” là khái niệm dùng phổ biến trong triết lí thuộc về mức độ tình cảm, trình độ nhận thức, tương đương với các khái niệm lòng, bụng, dạ (đau/vui lòng, tốt/xấu bụng, sáng/tối dạ …) (1)

3. Theo chúng tôi, từ góc độ triết học (và hẳn nhiên, vì tác giả là Tiến sĩ  giảng dạy Triết học), trọng tâm của bài viết là phần nhận định của tác giả về lập trường của Triết học Phật giáo. Và đây cũng là vấn đề chúng tôi thấy cần phải trao đổi lại cho rõ ràng.

Để khách quan, chúng tôi trích nguyên văn đoạn viết của tác giả, và xin được in nghiêng những chỗ cần thiết, để tiện trao đổi.

Tác giả viết: “Tuy nhiên, trong Phật giáo quan niệm “Tâm” là bản thể vũ trụ còn với nghĩa coi “Tâm” là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới và chi phối các hoạt động của con người. Theo những bộ kinh luật dạy của nhà Phật cho rằng: hết thảy mọi cái đều bởi Tâm tạo nên. “Tâm” sinh thì vật sinh, “Tâm” diệt thì vật diệt, “Tâm” làm chủ, vật chuyển theo “Tâm”. Theo thuyết “Nhân duyên sinh” của nhà Phật, hai yếu tố này, có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau. Không có “Tâm”, cũng sẽ không có “Vật”, sở dĩ “Vật” tồn tại được là do có “Tâm”, không có “Tâm” thì “Vật” là gì cũng không ai biết. Ngay đến tên gọi của “Vật” cũng do “Tâm” đặt ra. Quan điểm này của Phật giáo mang tính duy tâm chủ quan rõ rệt, khi cho rằng mọi cái trong thế giới này đều từ “Tâm” mà ra. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, thế giới này được hình thành từ vật chất. Ý thức là sự phản ánh của vật chất, do vật chất quyết định. Do đó, không thể khẳng định thế giới này được hình thành từ “Tâm” theo quan niệm của Phật giáo”.

- Theo chúng tôi, dứt khoát triết học Phật giáo không phải là “mang tính duy tâm chủ quan rõ rệt” như tác giả khẳng định. Ai cũng biết, Chủ nghĩa Duy tâm chủ quan (ngay cả những biến tướng hiện đại của nó như Chủ nghĩa Thực chứng, Chủ nghĩa Thực dụng, Chủ nghĩa Hiện sinh …) suy đến cùng là phủ nhận tồn tại khách quan, kể cả con người (nhưng trừ cái “Tôi” của mình – Chủ nghĩa Duy ngã), Triết học Phật giáo không như vậy. Triết học Phật giáo cho rằng thế giới hiện tượng và sự vật (chư pháp) tồn tại khách quan như nó vốn có, không phụ thuộc và ý thức chủ quan của con người. Vấn đề là ở chỗ, do vô minh, con người đã nhận thức – phản ánh một cách sai lầm về thế giới khách quan (do không nhận thức được thực tướng – bản chất của sự vật), và “bê” nguyên sự sai lầm đó vào trong nhận thức, hình thành thế giới chủ quan sai lầm của mình (Phật giáo gọi là “ngã kiến”). Tình trạng này gần giống hiện tượng “Tha hóa” mà Triết học Phương Tây đã cảnh báo từ thời cận đại, mà có lẽ lâu hơn nữa, từ Platon (427 -347 TCN). Triết học Phật giáo cũng đã chỉ ra con đường, biện pháp khắc phục sai lầm do “Sở tri chướng” (chướng ngại do sự hiểu biết sai lầm gây nên. Đây rõ ràng là một đóng góp to lớn của Triết học Phật giáo trong lịch sử triết học của nhân loại cần phải được khẳng định.

 -  Đúng là kinh điển Phật giáo đều đề cao cái Tâm, Kinh Hoa Nghiêm (bộ kinh quan trọng của Triết học Phật giáo Đại thừa) chủ trương “Pháp giới duy tâm”: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tính, nhất thiết duy tâm tạo” (Nếu muốn biết rõ rốt ráo, hết thảy Phật ba đời, nên xét tính pháp giới, tất cả do tâm tạo). Và, nhiều lúc nhiều nơi người ta cứ nhặt ra câu “nhất thiết duy tâm tạo” trong kinh để rồi qui kết rằng Triết học Phật giáo là Duy tâm chủ quan, rằng Tâm “đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới” …

Như trên đã nói, Triết học Phật giáo cho rằng Tâm chỉ tạo ra cái thế giới chủ quan sai lầm chứ không tạo ra cái thế giới khách quan. Thế giới quan Phật giáo nói rõ, thế giới hiện tượng sự vật được hình thành từ những yếu tố vật chất (Tứ đại hoặc Lục đại), nó vận động phát triển tự thân theo qui luật khách quan sinh – trụ - dị - diệt không đầu không cuối, không ai sinh ra, không có lực lượng thần bí nào chỉ đạo, và cũng không bao giờ mất đi. Về thế giới quan, đó rõ ràng là một quan điểm triết học duy vật và có tính biện chứng sâu sắc, không còn nghi ngờ.

Để kết thúc vấn đề trao đổi, xin dẫn bài kệ của Thiền sư Vô Ngôn Thông (? – 862), vị Tổ đầu tiên của dòng Thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam về vấn đề “Tâm” và “Vật” :

 “Nhất thiết chư pháp,

 Giai tòng tâm sinh,

 Tâm vô sở sinh,

 Pháp vô sở trụ,

 Nhược đạt Tâm địa,

 Sở tác vô ngại,

 Phi ngộ thượng căn,

 Thận vật khinh hứa

(Tất cả các pháp, Đều từ tâm sinh, Tâm không chỗ sinh, Pháp không chỗ trụ, Nếu đạt Tâm địa (2), Việc làm không ngại, Không gặp người hiểu, Dè chừng không nói). (3)       

 Chú thích.

1. Xem, Lương Gia Tĩnh. Bàn về chữ tâm (Triết học Phương Đông và Phương Tây – Vấn đề và cách tiếp cận, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012).

 2. “Tâm địa” là một thuật ngữ trong Phật học, dùng tỉ dụ: Các pháp do tâm biến hiện như muôn loài cỏ cây trên mặt đất, cây cỏ tuy thay đổi lớp này lớp khác nhưng đất vẫn y nhiên không thay đổi; Tâm địa chỉ bản tính chân tâm, dù có tiếp xúc với cảnh vẫn không xao động, biến đổi.

 3. Thiền uyển tập anh (Bản dịch của Ngô Đức Thọ), NXB Văn học, Hà Nội, 1990. tr. 27.

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (7 bài gửi)

dương liểu ngạn 04/07/2013 12:17:40
tiến sĩ hay thạc sĩ không hiểu là không hiểu. Cám ơn anh cs Quãng tuệ, anh đã giúp mọi người hiểu thêm về Đạo Phật.
đạt nguyễn 11/12/2012 21:42:47
kính gởi cư sĩ Quảng Tuệ! nếu đạo hữu có bản điện tử bài báo này thì đạo hữu có thể gởi cho xin vào hồm thư điện tử chantroi1221@yahoo.com, để có dịp đọc đầy đủ và trao đổi thấu đáo hơn. chân thành cảm ơn
Chánh Tín 08/12/2012 08:08:26
Kinh điển Phật giáo nói Vạn Pháp Duy thức, là nói rằng tất cả tồn tại ngoại giới thảy đều là sự biến hiện của thức, được sáng tạo bởi thức.
Tồn tại khi trở thành đối tượng của nhận thức, tồn tại ấy không xuất hiện trong thức NHƯ NÓ LÀ NÓ, mà xuất hiện qua ẢNH TƯỢNG ĐƯỢC XỬ LÝ, hay được TÁI CẤU TRÚC bởi thức. Quá trình xử lý đối tượng nhận thức này, tức quá trình tái cấu trúc được thực hiện bởi thức này, kinh điển gọi là Vikalpa (phân biệt) hay Parikalpa (biến kế phân biệt). Cái tồn tại là cái phân bố cấu trúc một cách không hiện thực. Cái phân bố cấu trúc bất thực ấy, được chỉ định là Thức
Thức (hay cách gọi khác là vọng tâm, nghĩa là tâm phân biệt do mê lầm) không bao giờ nhận thức được tự thân của sự vật, nghĩa là nó không thể vươn đến hay đạt đến Chân Như hay Như tính của tồn tại mà chỉ nắm bắt được những gì sau khi chúng được tái cấu trúc.
avatar
Chánh Tín 08/12/2012 10:18:52
Cái mà ta thấy, biết không phải là tự thân của thực tại như thực nó như thế là như thế, mà chỉ là ảnh tượng được tái cấu trúc bởi thức (vọng tâm.
Nói Duy thức (Vinjnaptimatratà - tất cả DUY CHỈ LÀ THỨC), hay chính xác hơn, duy chỉ là dữ liệu thông tin của thức.
Cần phải nhận định rõ bộ ba TÂM - Ý - THỨC chỉ chung cho MỘT thực thể, nơi đó những gì đã được kinh nghiệm đều được lưu trữ để dẫn đến kết quả trong tương lai. Thức (vọng tâm) là từ ngữ có nội hàm là công cụ nhận thức, đồng thời chính nó cũng là kết quả đạt được qua quá trình nhận thức.
Theo Ngài Thế Thân (世親, Vasubandhu), một Luận sư xuất sắc của Thuyết nhất thiết hữu bộ thì: Thế giới này là kết quả của hành vi thiện hay bất thiện của chúng sinh trong quá khứ. Hành vi ấy được tích lũy trong nhiều đời, từ vô thủy, tùy điều kiện thích hợp mà xuất hiện NHƯ LÀ thế giới.
Thế giới bên ngoài được biến thái bởi thức của cộng đồng nghiệp. Thế giới xuất hiện do ảnh hưởng của cộng đồng bởi lực tăng thượng của nghiệp lực tất cả hữu tình.
Mỗi khi thức xuất hiện là tự nó phân đôi thành chủ thể và đối tượng tương ứng. Thức chỉ có thể nắm bắt được đối tượng được cấu trúc bên trong CHÍNH NÓ.
Triết học Phật Giáo (ở đây là Duy Thức học), không hoàn toàn phủ nhận tự thể tồn tại chân thực, mà chỉ phủ nhận tồn tại cấu trúc bởi thức ô nhiễm là hư vọng bất thực, duy chỉ có điều, lập trường của Duy Thức là khẳng định: thực tại chân thực ấy, thực ra chỉ tồn tại trong thức mà thôi. Nói Duy chỉ là Thức là ý muốn nói "Chỉ tồn tại trong thức".
Hay nói một cách khác, mọi thứ mà người ta tưởng là mọi đối tượng vật chất cụ thể, khách quan bên ngoài, thực chất chỉ là những thứ trong hình thái vật chất của CÁI BIẾT(Chân Tâm) mà thôi.
Trần Khánh Dung 07/12/2012 09:49:14
Rất nhiều người cứ dùng sự hiểu biết trong lĩnh vực chuyên môn của mình mà "soi" vào hệ thống đạo lý của Phật giáo để nhận xét, đánh giá, bình phẩm. Họ không hiểu rằng những kiến thức họ có được chỉ là những hạt cát so với những gì các bậc Giác ngộ chứng đắc. "Bất khả tư nghị", những kiến thức của thế gian không thể giúp con người hiẻu rõ, soi rõ những diệu lý của Phật giáo, chỉ khi người thế gian chịu gạt bỏ sự kiêu mạn, chấp trước thì mới có thể nhận biết, quán tưởng được những vi diệu của giáo lý Phật giáo, mới không tốn thời gian gán ghép Phật giáo là duy tâm, duy vật...Riêng tôi, vốn là người bình dân học vụ nên không quan tâm đến việc Phật giáo là tôn giáo hay triết học, là duy tâm hay duy vật mà chỉ thấy Phật giáo giúp mình bớt khổ, bớt oán ghét, biết tha thứ cho mình và cho người thì tôi tin và theo Phật thôi
avatar
Chánh Tín 08/12/2012 19:40:39
Xin góp thêm ý kiến của GS Phạm Xuân Yêm, nhà khoa học Việt Nam nổi tiếng trên thế giới “…Phật học là một hệ thống nhận thức đã hoàn thiện do các vị đã đạt đến CÁI BIẾT TUYỆT ĐỐI, do đó không có sự phát triển. Trong khi đó, vì hình thành trong hệ thống tương đối nên khoa học luôn phát triển hướng đến sự hoàn thiện NHƯNG KHÔNG BAO GIỜ đạt đến sự hoàn thiện…”
(“VẬT LÝ HỌC LƯỢNG TỬ & PHẬT GIÁO”)
Đạo Quang 07/12/2012 00:54:07
Tán thành ý kiến của tác giả. Đức Phật chỉ rõ cái Tâm thức chủa quan,tự thân nó mang vọng kiến sai lầm khi nhìn thực tại; còn bản thân thực tại là "như thị". Vì vậy, nên nói "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức; Ba cõi chỉ là tâm, vạn pháp chỉ là thức". Ba cõi là: dục dụ cho tham, sắc dụ cho sân, vô sắc dụ cho si. Tham, sân, si không ngoài tâm mà có. Còn những khái niệm giả hữu (pháp) không ngoài thức phân biệt mà có. Vì vậy, ngài Linh Hựu nói "Nội ngoại chư pháp, tận tri bất thực. Tùng tâm biến hiện, tức thị giả danh". Những tự ngôn tự ngữ ở trong vọng tâm là giả danh, rồi gán cho sự vật bên ngoài với những giả danh là: Cốc, ly, tách, cup...Còn thế giới khách quan thì không ở nơi tâm thức con người, nên ngài Mã Minh nói: "Hết thảy các pháp, từ trong bản chất nó lìa tướng danh tự, lìa tướng nói năng, lìa tướng tâm duyên lự, rốt ráo bình đẳng, không có biến đổi, không thể phá hoại, chỉ là nhất tâm, nên gọi là chân như.
tổng cộng: 5 | đang hiển thị: 1 - 5
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả