Minh tinh Thẩm Thúy Hằng – Từ màn bạc đến cửa Phật từ bi
image

Buổi chiều của đời nghệ sĩ như một bữa tiệc tàn trên sân ga cuối cùng của cuộc đời. Bao nhiêu cẩm bào, ngai vị, xa hoa gấm vóc cũng trả lại hết cho đời. Người nghệ sĩ sẽ lui về nơi ẩn náu của mình, như truyền thuyết về loài chim Phượng Hoàng trong thần thoại Ấn Độ.

Rằng, chim Phượng Hoàng được sinh ra trên ngọn những ngọn cây Ngô đồng và cây Bao báp cao nhất trên những khu rừng già của đại ngàn. Không ai nhìn thấy chúng bao giờ. Lớn lên chúng vỗ cánh bay đi bốn phương trời đến những vùng rừng núi chạm đến cửa Trời để sống.

Một ngày kia khi đã thấy già, chúng bay về lại khu rừng trên những ngọn cây đã sinh ra. Phượng Hoàng tha những cành củi khô làm cho mình một cái tổ và nằm trên đó đến khi chết. Người đời có tìm gặp những cái tổ trên ngọn cây cao nhất với nắm xương khô, nhưng không bao giờ nhìn thấy chim Phượng Hoàng.

 Thẩm Thúy Hằng và một số ít nghệ sĩ như cố NSND Phùng Há, Kim Cương, Minh Cảnh, Bạch Tuyết… đã chọn cho mình con đường về cõi Phật từ bi, tu thiền, ăn chay trường, làm việc từ thiện xã hội sống nốt quãng đời con lại. Họ giống như những con chim Phượng Hoàng trong thần thoại giữa đời thường.

Phật duyên với minh tinh màn bạc Thẩm Thúy Hằng

Có một ngày cuối thu năm 1999, nhà thơ – họa sĩ Phan Vũ (tác giả bài thơ Em ơi Hà Nội phố) rủ tôi đến thăm nhà Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng mà ông cho rằng hai vợ chồng nhà ấy là bạn rất thân. Ngưỡng mộ lẫn kính trọng hai con người ấy, tôi vui mừng chở ông đi ngay.

 Trên đường đi ông còn dặn dò: “Hỏi thăm chuyện đạo và đời cho vui. Bà ấy giờ tu tại gia, không buồn kể chuyện phim ảnh đâu. Đừng chụp ảnh gì cả…”. Nhà thơ Phan Vũ là một lãng tử thâm niên, một tín đồ của cái đẹp, mê cái đẹp quên thời gian, nhưng hồ như xưa nay tôi chưa từng nghe ông ca tụng ai đẹp nhất, trừ người vợ đã mất khi trẻ của ông là một diễn viên điện ảnh cùng thời với NSND Trà Giang. Nay lại nghe ông ca tụng Thẩm Thúy Hằng là người phụ nữ đẹp nhất… hành tinh thì rất lạ.

 


Ông miên man nói về nhan sắc một thời, mỹ nhân một thời ở miền Bắc và miền Nam, rồi bình luận về góc cạnh đẹp trong hội họa, phim ảnh, sân khấu và đời thực. Với ông, tóm lại Thẩm Thúy Hằng là người phụ nữ thành đạt đỉnh cao nhất trong sự nghiệp và nhan sắc đẹp lộng lẫy không ai sánh nổi. Nhưng bây giờ, ông trầm giọng: “Gìa rồi, tàn phai và xa lánh mọi người để giữ vẻ đẹp trong lòng người ngày xưa, tội lắm. Nhà Phật là cánh cửa mở để phục sinh tâm hồn những người như bà ấy…”.

Sau nhiều năm trong đời, tôi mới nhìn thấy lại Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng và ông Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh tại tư gia căn biệt thự số 608 đường Cách mạng Tháng 8, quận 10, TPHCM, gần chợ Hòa Hưng ngày nay. Cuộc thăm hỏi của những người bạn lớn với nhau, tôi chỉ ngồi im lặng nghe như một cậu bé và chiêm nghiệm. Cho đến khi cô Hằng cho biết đến giờ tụng kinh niệm Phật, tôi với nhà thơ ra về, lòng dạt dào một cảm xúc khó tả. Buồn và vui lẫn lộn, mơ hồ…Chợt nhớ đến bài thơ Nhan sắc của Thế Lữ mà khi còn tuổi sinh viên tôi đã thuộc lòng:

“Nhưng em ơi, vẻ xanh tươi trong trời đất
Tuy đến hạn u tàn, song chẳng mất:
Đông qua, lại thấy xuân sang,
Còn vẻ đẹp giai nhân, đắm đuối rỡ ràng,
Gồm những ánh tinh hoa bao cảnh sắc.
Phải đâu cũng lâu bền như non nước ?

Một ngày kia, em ngắm lại dung nhan.
Em sẽ cùng ta buồn trách thời gian,
Tiếc cảnh vui qua, tiếc mầu rực rỡ
Của xuân đời ngàn năm không về nữa”

Nhìn thấy thần tượng Thẩm Thúy Hằng, bài thơ làm cho tôi chợt nhớ đến nghệ danh Thẩm Thúy Hằng… chữ Hằng là tên con sông Hằng bên Ấn Độ, là dòng sông gội rửa mọi tội lỗi cho con người. Dòng sông đưa con người về với cõi Vĩnh hằng, về với cõi Phật từ bi, về với Thánh ALah đang ngự tại Phương Đông. Dường như định mệnh đã sắp đặt mối tương nghiệp có phật duyên từ những ngày ở tuổi 16-17 khi Kim Phụng thi trúng tuyển diễn viên vai Tam Nương của hãng phim Mỹ Vân cuối năm 1958 cho bộ phim “Người đẹp Bình Dương”.

Liên quan đến cửa Phật người đời ai cũng biết đến một nghệ sĩ nổi danh cùng thời Thẩm Thúy Hằng là nghệ sĩ cải lương Minh Cảnh. Minh Cảnh bắt đầu ca hát mê vọng cổ từ năm 15-17 tuổi, anh đã thuộc làu tuồng “Huyết lệ trùng dương” .

Năm 24 tuổi (1961), Minh Cảnh xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu với bài vọng cổ “Tu là cội phúc” của soạn giả Viễn Châu, và trở thành một ngôi sao cải lương đến nay chưa từng ai vượt qua giọng ca vàng trời phú cho Minh Cảnh. Nhưng dường như “kép chánh” Minh Cảnh luôn thủ những vai diễn sầu ai, bi thương, cơ hàn, giang hồ độc hành… như một định mệnh cuộc đời dành sẵn cho người nghệ sĩ tài hoa như anh.

Người miền Nam không có ai là không mê tiếng hát Minh Cảnh, nhưng ít ai để ý hầu như các vai diễn của anh đều có chút gì đó liên quan đến cõi Phật. Một Trần Tự Tâm trong “Máu nhuộm sân chùa”, một Âu Thiên Vũ trong “Mùa thu trên Bạch Mã Sơn”, một Cao Nguyên Bình trong “Đêm lạnh chùa hoang”, hay Võ Đông Sơ, Kiếm sĩ mù, Đạo đời hai ngã, Lưu Bình - Dương Lễ…và cuối đời, Minh Cảnh nương nhờ cửa Phật tại TP HCM, rồi anh sang Mỹ trị bệnh hiểm nghèo cũng tá túc trong một ngôi chùa, ăn chay trường, niệm Phật hàng đêm.

Với một người bình thường, việc nương nhờ cửa Phật, xuất gia tu hành thường rơi vào chuyện tình tan vỡ, buồn đau, bất mãn sự đời. Còn một nghệ sĩ, một người nổi tiếng như Thẩm Thúy Hằng, Minh Cảnh, Kim Cương, Bạch Tuyết… việc tu hành là một pháp giải thoát, một nơi gửi thân ẩn náu, trốn tránh người đời và sự đời tìm vui trong lời kinh tiếng kệ, mõ sớm chuông chiều, để phôi pha đi những nỗi buồn, hoài tiếc, sân si một thời trẻ trung, nhan sắc huy hoàng.

Thẩm Thúy Hằng giã từ những hào quang của cuộc đời không chút dễ dàng. Bẵng một thời gian, khoảng năm 2006 cô bất ngờ trở lại sân khấu với hai kịch bạn viết về tình yêu, hạnh phúc. Giới nghệ sĩ sân khấu và người ái mộ mừng húm vì sự trở lại này.

Đó là nghiệp duyên chưa dứt, ngộ tánh chưa thông. Nhiều năm tu tại gia, làm tu sĩ, phật tử nhưng nghĩa vụ gia đình, vương vấn tình bằng hữu và nghiệp đời làm sao Thẩm Thúy Hằng dứt bỏ hồng trần. Khi bán căn nhà ở quận 10, dời về Bình Qưới –Thanh Đa sinh sống, người lui kẻ đến ít dần, nhất là khi người chồng TS Nguyễn Xuân Oánh qua đời, Thẩm Thúy Hằng mới thật sự dứt bỏ nghiệp trần để tu hành, xa lánh cõi tạm trừ những bạn bè thân hữu xa cũ, ruột rà mới gặp được cô.

 


Không phải sắc đẹp bao giờ cũng mang đến thành công

Con đường sự nghiệp của Thẩm Thúy Hằng không phải là con đường bao giờ cũng xuôi chèo mát mái như người đời nghĩ. Sự sáng tạo và lao động cật lực của Thẩm Thúy Hằng là một tấm gương để những người làm nghệ thuật ngưỡng mộ. Một nghệ sĩ cùng thời với Thẩm Thúy Hằng (xin được giấu tên) đã tâm sự : “Tôi là một trong hàng vạn tín đồ yêu đơn phương Thẩm Thúy Hằng như yêu một Nữ hoàng nhan sắc. Nhưng với tôi, tình yêu còn là sự nể phục đến kính trọng tấm gương tài năng, nhan sắc và lao động nghiêm túc, hết mình nghệ thuật, vì khán giả”.

Theo ông, việc Thẩm Thúy Hằng tu hành, ăn chay trường, lánh xa chốn ồn ào là lẽ thường của một tên tuổi lừng danh như cô. Khi thời nhan sắc không còn, đã héo úa, phai tàn cô rút vào im lặng, tịnh tâm bỏ mặc người đời hoài tiếc và nhớ mãi những gì đã có. Đừng xem việc đó là gì cả, rất bình thường.

Thẩm Thúy Hằng ngày xưa là nữ hoàng nhan sắc, là người đẹp Bình Dương, con người đó đã mất rồi, đã thành qúa khứ xa rồi. Còn Thẩm Thúy Hằng ngày nay, xin gọi cô với Pháp Danh gì đó là Diệu Hiền, Diệu Hạnh, Diệu Thiện… như thế sẽ công bằng hơn với cô ấy.

Là phụ nữ bình thường, không có điều kiện thì không nên sa đà vào thẩm mỹ, dao kéo. Còn một nghệ sĩ nổi tiếng, việc thẩm mỹ là không thể cưỡng lại. Ai cũng muốn mình trẻ trung, xinh đẹp vĩnh viễn trong lòng người ái mộ.

Huyền thoại nhạc Rook Michael Jakson chi cả triệu đô la cho việc làm đẹp trong một lần lưu diễn, nữ hoàng điện ảnh Liz Taylor tốn nhiều triệu đô la để giữ mãi nhan sắc nữ hoàng Cléopatra…Thẩm Thúy Hằng có thấm tháp gì đâu so với những hoàng đế ca nhạc, nữ hoàng điện ảnh thế giới. Chỉ tại góc nhìn hẹp, không quen của quan niệm về thẩm mỹ, sắc đẹp người Á Đông và người Việt chúng ta.

Từng có lúc tại Sài Gòn vào thập niên 1960, người đời đã so sánh Thẩm Thúy Hằng ngang với những minh tinh Châu Á và thế giới là gì. Kể cũng lạ, từ một nữ sinh vô danh, Thẩm Thúy Hằng bước lên đài vinh quanh nghệ thuật với danh hiệu để đời mọi người ái mộ mà không cần bất cứ một kỳ sát hạch, thi thố gì cả. Điều này là xưa nay hiếm vì không hề có tiền lệ bao giờ.

Nghề và nghiệp diễn đã để lại cho Thẩm Thúy Hằng nhiều kỷ niệm khó quyên. Có những kỷ niệm vui mà cũng có những kỷ niệm buồn, làm sao người đời biết được. Việc chăm lo cho 4 người con, chăm lo cho chồng, chăm lo sân khấu kịch, điện ảnh, ca nhạc…vừa phải viết kịch bản, quản lý đoàn, vào vai chính, thu chi tài chính, ngoại giao, bạn bè, báo giới chưa kể đến những biến cố, thăng trầm lịch sử Sài Gòn cũ làm ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp của chồng con. Có cả những kỷ niệm suýt chết người vì yêu nghệ thuật.

Đó là vào năm 1970, khi quay bộ phim “Xin đừng bỏ em” của Thăng Long điện ảnh do Lê Mộng Hoàng đạo diễn, Thẩm Thúy Hằng đã bị tai nạn liên quan đến phần đầu và mặt khi ngọn đèn Sunlight rớt xuống trúng ngay đầu trong khi “Người Đẹp Bình Dương” đang “say mê” diễn xuất một cảnh tình cảm rất mùi. Tai nạn đã làm ảnh hưởng đến dây thần kinh thị giác của Hằng chút nữa làm cho người đẹp của chúng ta trở thành “độc thủ mỹ nhân”.

Thẩm Thúy hằng còn là nghệ sĩ điện ảnh đầu tiên xuất khẩu đóng phim. Khi tên tuổi của cô vang dội khắp Á Châu, các hãng phim Đài Loan, Thái Lan lập tức tìm Thẩm Thúy Hằng mời đóng phim mà đến nay chưa có một nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam nào được may mắn đó. Đóng vai nữ chính với các tài tử thế giời đang nổi tiếng như trong bộ phim S.T.A.B của Đạo diễn Chalong Pakdivijit dàn dựng.

Phim do hãng Colombia Mỹ phát hành, với sự diễn xuất của các ngôi sao "đa quốc tịch" như Greg Moris, Anoma Palalak, Krung Srivilai… Ngay trong phần giới thiệu bộ phim, tên của chị được nêu lên trân trọng, xem như là một sự xuất hiện thật đặc biệt. Phim này khi phát hành tại Thái Lan và Việt Nam có tên là “Vàng”. Đây là bộ phim có doanh thu cao nhất trong lịch sử điện ảnh Thái Lan (trước năm 1974).

Lòng thanh thản, hồng trần dễ có mấy ai

Một ngày trung tuần tháng 4/2003, trước 4 tháng Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh qua đời, trong căn nhà ở Bình Qưới- Thanh Đa, NSUT Thẩm Thúy Hằng đã nhấc điện thoại nói chuyện với một đạo sư, cô nhắc lại cuộc hẹn tại tư gia với sự chờ đợi của Tiến sĩ Oánh.

Khi đạo sư đến nơi, Tiến sĩ Oánh đã thay trang phục chỉnh tề và lịch sự, thắt ca-ra-vat nghiêm túc theo tác phong thường ngày của ông. Chỉ duy nhất một điều khác là sức khỏe không cho phép, buộc ông phải ngồi trên chiếc xe lăn.

Thẩm Thúy Hằng ngồi bên cạnh phu quân nói khá nhiều về chuyện hiện thức với vô thường. Cô rất tin tưởng vào sự tối nhiệm mầu của Phật pháp và sự hóa thân mầu nhiệm của Quán Thế Âm vi diệu. Sau nhiều năm ngẫm nghiền kinh Phật và giáo lý, Thẩm Thúy Hằng, người đẹp Bình Dương trở thành một đệ tử rất uyên bác, thẩm thấu nhiều  về đạo pháp.

Nhớ có lần kỳ nữ Kim Cương thổ lộ: không hẹn mà gặp, tôi với Hằng có những công việc rất giống nhau. Cùng nghiên cứu về Phật pháp, ngồi thiền và ăn chay trường, tham gia các cuộc từ thiện - xã hội dưới màu áo Phật tử. Hôm đám tang NSND Phùng Há, người thầy lớn, má Bảy của ngành cải lương, cả Thẩm Thúy Hằng và Kim Cương đều trong trang phục Phật tử, túc trực thường xuyên bên má Bảy.

 

Thẩm Thúy Hằng và các bạn đồng nghiệp
Thẩm Thúy Hằng và các bạn đồng nghiệp

Trong sách Kinh dạy tu tại gia, khuyên con người luôn sống hiếu đạo trước tiên là với cha mẹ, anh em, người thân. Không phải lên chùa xuất gia mới là người tu hành. Khi thầy tu còn mặc chiếc áo nâu sòng là còn mắc nợ người nông phu tay lắm, chân bùn, khuya sớm vất vả để trồng cây dâu, nuôi tằm, lấy kén, quay tơ, dệt vải và may thành áo.

Khi nhà sư còn ăn đậu phụ là còn mắc nợ người đã trồng ra đậu và chế biến thành món ăn. Như vậy, pháp tu tâm chính là sống chân  thật, làm việc thiện, hiếu thảo. Thì việc lên chùa hay ở nhà tu đều giống như nhau. Những nghệ sĩ tài danh nổi tiếng một thời như Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Bạch Tuyết, Minh Cảnh…khi sức khỏe đã yếu, thời xuân sắc đã không còn trên làn môi, đôi má. Mắt đã nhăn nheo, yếu mờ rất cần chuông mõ công phu để thanh thản, tịnh tâm và quên hết thảy mọi sân si cõi trần.

Thẩm Thúy Hằng tâm sự với vị đạo sư rằng: anh Oánh chưa hiểu sự nhiệm mầu của Phật. Là câu nói rất thực lòng. Bởi từ khi khởi nghiệp công danh, Tiến sĩ Oánh từng là sinh viên giỏi nhất Đại học Harvard Hoa Kỳ.

Ông không có cơ hội tiếp xúc với giáo lý nhà Phật vì con đường ông chọn đi là con đường tri thức hiện đại nhất của nhân loại về kinh tế, ngân hàng, không phải thế giới tâm linh. Trở về đất nước, ông mang hết sở học và kinh nghiệm ra để phụng sự đất nước.

Cho dù đó là chế độ Sài Gòn cũ, ông đã lên tới bậc thang cao nhất quyền lực là Thủ tướng. Trong lĩnh vực tài chính ông là Thống đốc Ngân hàng quốc gia, cũng là đứng đầu về ngân khố, tiền bạc. Thì làm sao ông còn thời gian để nghiên cứu sự nhiệm mầu của Phật.

Đất nước giải phóng, ông cùng nhiều học giả, trí thức ở lại quê hương và đã được những vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước đón nhận và trọng dụng ngay từ những ngày đầu giải phóng Sài Gòn.

Đất nước nghèo nàn, lạc hậu sau chiến tranh, cả nền kinh tế và xã hội đang vật vã tìm lối đi lên đổi mới và phát triển. Những nhân sĩ, trí thức như ông là những chiến sĩ tiên phong trên lĩnh vực kinh tế, tài chính. Bất chấp những lời biếu riêu của bọn phản động đang sống ở hải ngoại.

Ngay cả minh tinh Thẩm Thúy hằng phu nhân ông, kẻ xấu không từ thủ đoạn nào dể kích động, lôi kéo và hằn học vì sự chọn lựa ở lại quê hương Việt Nam của hai ông bà. Chỉ ngay sau ngày giải phóng không lâu, Thẩm Thúy Hằng đã nhanh chóng hòa nhập trên sâu khấu cách mạng cùng nhiều văn nghệ sĩ miền Bắc và văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam.

Sân khấu lại sáng đèn, rạp chiếu bóng lại quảng cáo những bộ phim, vở kịch có Thẩm Thúy Hằng tham gia. Có những người nghèo, sống giữa đô thành Sài Gòn phồn hoa chưa một lần đặt chân đến rạp chiếu bóng, sân khấu kịch trường thì lần này họ chính là chủ nhân của những xuất chiếu phim, những vở kịch để mãn nhãn ngắm nhìn minh tinh thần tượng bấy lâu nay. Họ là chủ nhân của một đất nước tự do, độc lập, hòa bình.

Vị đạo sư hôm ấy đã giúp cho Tiến sĩ Oánh siêu thoát phần con người của xã hội, như phu nhân ông là Thẩm Thúy Hằng, giúp ông nhẹ nhàng tách ra khỏi thực tại để nhẹ nhõm, thanh thản trong lòng khi tuổi tác già nua và bệnh tật đang gặm nhấm ông từng ngày, từng hơi thở.

Pháp giải thoát rất đơn giản: Rằng bao nhiêu kiến thức cao rộng có giúp gì cho con người khi tàn hơi, kiệt sức ? Rằng con người đã sống bao nhiêu năm liệu có bao giờ nhận ra mình là ai chưa? Nhà Phật khuyên con người khi đã như thế, như Tiến sĩ Oánh những ngày cuối đời hãy tạm gạt bỏ những gì tồn tại xem nó như một bí ẩn chưa trả lời, thả tâm hồn trôi lạc về cõi bí ẩn ấy với một đầu óc hoàn toàn ngu dốt, không khái niệm, không hiểu biết, vô tri, vô thường…

Câu chuyện thuyết pháp của đạo sư hôm ấy, cuối cùng Tiến sĩ Oánh cũng cười vui cho biết: Tôi cảm thấy vô cùng thanh thản… Những người có mặt hôm ấy như Thẩm Thúy Hằng, nghệ sĩ Thanh Trà đã mừng bật khóc. Đạo sư Duy Tuệ đã đeo vào cổ Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oanh một tượng Phật bằng vàng và ông còn xin thêm chuỗi tràng hạt đeo vào tay.

Ngày 29 tháng 8 năm 2003, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh đã nhẹ nhàng đi vào cõi vĩnh hằng với sắc diện rất thanh thản. Sau 83 năm mệt mỏi với bao nhiêu kiến thức, thăng trầm của một đời trí thức qua 3 chế độ khác nhau, ở thời điểm lịch sử nào ông cũng là người tận tụy hết mình, lao động và cống hiến rất trách nhiệm, trong sáng.

Nhờ tấm lòng và sự am hiểu về thiền, Phật của phu nhân Thẩm Thúy Hằng đã giúp ông mấy tháng đeo trên cổ hình tượng Phật và ngộ đạo như một Phật tử hằng bao nhiêu năm nghiên cứu tu hành.

Cõi thiền, cửa Phật không phải của riêng ai, Thẩm Thúy Hằng chọn cho mình cõi ấy là duyên số và cũng là định mệnh cuộc đời. Để có sự thanh thản, yên tĩnh cuộc đời, để vĩnh viễn còn có trong lòng người mộ điệu một minh tinh màn bạc Thẩm Thúy Hằng, thì dù cho ai đó nói gì, hiểu được gì, biết được những gì thì Thẩm Thúy Hằng vẫn là một phụ nữ đẹp nhất từ trước đến nay.

Một nghệ sĩ tài năng và toàn vẹn cả sắc lẫn tài. Trời sinh ra Thẩm Thúy Hằng có thể là một mỹ nhân không như lời tiên tri của đại thi hào Nguyễn Du trên 300 năm trước, rằng: chữ tài, chưa hẳn liền với chữ tai một vần. Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng là một ngoại lệ xưa nay chưa từng có.

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Phản hồi (4 bài gửi)

Văn Khương - tphcm 22/06/2011 00:26:30
"Ngoảnh nhìn lại, cuộc đời như giấc mộng; được, mất, bại, thành bổng chốc hóa hư không". Vâng, cuộc đời là vậy, sự thật là thế! Chỉ có sự bất an, không thanh thản là luôn vây bủa chúng ta nếu chúng ta không có hướng đi chân chính, hướng thượng. Chư tổ dạy "Tâm an thế giới an; tâm bình thế giới bình" .Và "Tự do là ung dung trong ràng bộc, hạnh phúc là tư tại giữa khổ đau". Có lẽ tài - sắc tuyệt trần như NS Thầm thúy Hằng hay tài - lộc - danh như tiến sỹ NSUT Bạch Tuyết v.v...cũng lắm bất an, bất như ý...Họ đã chọn đạo PHẬT và chánh pháp của PHẬT dạy để hành trì trong cuộc sống hàng ngày, thật là trí tuệ, thật là dũng cảm. Vâng, đúng vậy, chỉ có Chánh Pháp mới là ánh sáng duy nhất soi đường,dẫn lối đưa con người đến bình an, tự do, hạnh phúc đích thực, miên viễn. Và cũng không lạ gì, mới đây thôi, ngày Phật Đản PL 2555 anh hùng LLVT nhân dân, thiếu tướng Lê mã Lương cùng phu nhân và ông Kim quốc Hoa - TBT báo Người cao tuổi cùng phu nhân đã quy y Tam Bảo tại Thiền Tôn Phật Quang( Núi Dinh, BR-VT). Nhưng, có điều muốn nói " chớ hẹn tuổi già mới học đạo, mồ hoang lắm kẻ tuổi xuân xanh".
Mộng du 21/06/2011 09:58:21
Mô Phật.
Thân gởi bạn dấu tên.
Bạn hỏi như vậy là hỏi cho biết, hay bạn hỏi để phê bình tác giả.
Trước khi trả lời câu hỏi của bạn, tôi xin có ý này:
Nam Yên không phải viết bài cho Phật giáo, và Nam Yên chưa chắc đã là Phật tử.
Vậy thì, vấn đề đặt nghi vấn đúng hay không đúng với tinh thần nhà Phật hay không, không cần thiết;
Bài viết này, Nam Yên viết cho báo "Phụ nữ ngày nay", trang web PTVN chỉ đăng lại.
Theo tôi nghĩ, Nam Yên khi viết những bài báo về Minh tinh Thẩm Thúy Hằng cũng rất thận trọng, dè dặt, bên cạnh đắn đo dùng bút lực làm sao cho thoáng cho sâu.
Đọc văn phong của Nam Yên trong các bài viết này, người ta liên tưởng đến văn phong trong kịch, cải lương, phim trước 1975.

Hiểu được như vậy, tôi xin trả lời rằng:

Đúng hay không đúng tinh thần nhà Phật hay không thì quả thật, tôi cũng không biết.

Ý của bạn muốn nói từ "vĩnh hằng" phải không?

Xin thưa, "vĩnh hằng" không thuộc về tôn giáo, tư tưởng, ý thức hệ nào?

Kết lại:

Nam Yên hoàn toàn chính xác khi dùng "nhẹ nhàng đi vào cõi vĩnh hằng" để nói về cái chết của con người.

Cái chết là cánh cửa cuối cùng mà ai cũng phải đến.
Cánh cửa ấy vẫn thường xuyên là nỗi kinh sợ cho nhiều người, nên người tìm cách chạy trốn; lánh mình và quên lãng trong khoảnh khắc gần kề bằng thái độ ngông cuồng "đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu" : đưa tiễn một đoạn đường đời khổ nhọc duy chỉ bằng say và quên trong chén rượu; hay trong những thú vui tiêu khiển phù phiếm khác.
Họ trốn chạy vào "Cõi người ta" để tìm lãng quên với công ăn việc làm, với con cái vợ chồng, với trách nhiệm, với công danh sự nghiệp.
Nhưng đã là cánh cửa cuối cùng, thì dù trốn lên núi, xuống biển, lên trời, vào khe đá, con người ta rồi ra cũng phải trực diện với nó.
Khi chưa trực diện, họ cũng kinh hãi, bàng hoàng trước cái chết của người khác. Nhà thơ Huy Cận đã vì họ mà "thay lời muốn nói" :

"Nghìn năm trước, thuở các người mơ mộng,
yêu trăng sao và thương nhớ gió mây,
mê giai nhân liễu mãnh với hồ đầy,
màu năm tháng cũng ngậm ngùi thế nhỉ?

Trời ão não những chiều buồn Hà Nội,
hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu.
Mây không bay, thương nhớ cũng không màu,
nắng không xế và lòng sầu mất hướng.

Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế.
Chiều mồ côi đời rét mướt ngoài đường,
phố đìu hiu màu đá cùng rêu sương.
Sương hay chính bụi đường phơi lả tả"

Thế đấy, cái chết lột trần trụi lũi thân phận con người trước cái Không bao la, tuyệt đối.
Và như thế, nhà thơ Việt nam ta hòa nhịp cùng nhà văn Saint-Exupéry trong tác phẩm "Terre des Hommes":

"Ai trong chúng ta chẳng từng rõ những hy vọng cứ mong manh dần, cái lặng lẽ câm nín cứ trầm trọng từng phút từng giây, như một cơn bênh hãi hùng. Chúng ta hy vọng, nhưng giờ khắc trôi, và tới lúc thôi thế! Mọi sự muộn cả rồi. Những bạn hữu đã đi, đã không về được nữa, đã đành yên nghỉ thiên thu trong lòng biển khơi một Nam Đại Tây Dương kia đã bao lần ngẩng mặt nhìn ai trên trời cao vạch đường ngang lối dọc...
Đời vốn đi như thế. ban đầu vào cuộc sống, chúng ta giàu, giàu nhiều, giàu nữa; trong bao năm, chúng ta trồng cây, tỉa hột, nhưng ngày tháng trôi, năm sầu lại: thời gian phá vỡ mất công trình; cây rừng bị chặt; bạn hữu từng người rơi rụng mất. Bóng tùng quân nghìn tầm xiêu đổ, cái con người trơ trụi sẽ còn nghe ra trong hoang liêu mối ngậm ngùi xuân xanh xa mất"

(Bùi Giáng dịch, Cõi người ta, Nxb Văn nghệ - 2005, tr. 40 - 42)

Bạn thấy không, "VĨNH HẰNG" không của riêng ai, không của tôn giáo nào, mà nó chỉ là một từ người ta dùng thay cho từ "CHẾT".
Vì sợ chết nên con người ta cũng kiêng sợ từ "CHẾT", người ta bèn thay các từ khác như "ĐI BÁN MUỐI", "MẤT", "VIÊN TỊCH", "QUA ĐỜI", "YÊN NGHỈ NGHÌN THU"...

Đạo Phật, chỉ đơn giản là thế này:

"Thức tâm vọng động,
Tràn ngập lòng đời,
Lụy kiếp luân hồi,
Nào người tế độ.

Phật tánh viên minh,
Tiềm tàng cõi tục,
Đa sanh lưu chuyển
Ai kẻ dắt dìu,

Cho dầu lên trời,
Chưa phải ra ngoài ba cõi,
Mà phải vào Thánh,
Mới là vượt khỏi sáu đường."


Chúc bạn an lạc.

Tái bút: Mong bạn lưu tâm sửa chữ "phật" thành "Phật" cho nghiêm túc nhé.
Nam mô Hoan hỷ tạng bồ tát
20/06/2011 15:06:43
Bạn Mộng Du ơi, câu này có đúng với tinh thần nhà phật không?
"Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh đã nhẹ nhàng đi vào cõi vĩnh hằng với sắc diện rất thanh thản."
Mộng du 19/06/2011 17:59:59
Mô Phật.
Nam Yên là ai?
Nam hay nữ mà lời văn phiêu bồng, tiêu sái đến vậy.
Lúc giọng văn đi lên thì lên cao vút tận trời xanh, xuyên thủng đám mây để mọi người ngước cổ trông theo bóng dáng thoạt ẩn thoạt hiện.

"Rằng, chim Phượng Hoàng được sinh ra trên ngọn những ngọn cây Ngô đồng và cây Bao báp cao nhất trên những khu rừng già của đại ngàn. Không ai nhìn thấy chúng bao giờ. Lớn lên chúng vỗ cánh bay đi bốn phương trời đến những vùng rừng núi chạm đến cửa Trời để sống.
Một ngày kia khi đã thấy già, chúng bay về lại khu rừng trên những ngọn cây đã sinh ra. Phượng Hoàng tha những cành củi khô làm cho mình một cái tổ và nằm trên đó đến khi chết. Người đời có tìm gặp những cái tổ trên ngọn cây cao nhất với nắm xương khô, nhưng không bao giờ nhìn thấy chim Phượng Hoàng."

Khi trút ngược bút lực xuống dưới thì xoáy xuống cho tận đáy hố thẳm nhân sinh, xé toạc lòng đất để lôi cho ra bản chất sự sống khi thăng khi trầm.

"Rằng bao nhiêu kiến thức cao rộng có giúp gì cho con người khi tàn hơi, kiệt sức ? Rằng con người đã sống bao nhiêu năm liệu có bao giờ nhận ra mình là ai chưa? Nhà Phật khuyên con người khi đã như thế, như Tiến sĩ Oánh những ngày cuối đời hãy tạm gạt bỏ những gì tồn tại xem nó như một bí ẩn chưa trả lời, thả tâm hồn trôi lạc về cõi bí ẩn ấy với một đầu óc hoàn toàn ngu dốt, không khái niệm, không hiểu biết, vô tri, vô thường…"

Có vị nào biết bài nào khác của Nam Yên không? Xin chia sẻ ra đây để cùng nhau thưởng thức.

Khí văn tao nhã, giọng văn trầm bỗng, thế sự hòa quyện với tâm sự của người hướng tâm lên đấng Giác Ngộ, với tâm trạng tát cạn và làm cho khô kiệt hết bao nhiêu trí thức thế gian mà một đời Giáo sư Oánh góp nhặt.
Bậc thầy của những bậc thầy giữa thế gian, bỗng chốc muốn mình là kẻ "Tôi biết một điều: tôi không biết gì cả", dồn hết tâm lực để "quy hồi" chim trời một thời bay lượn trên mọi ngõ ngách sách vở thế gian, thành đứa bé ngây thơ mà hồn nhiên đặt nghi vấn với mọi sự được nhìn được thấy được nghe.

Sự "Quy hồi" kia không đơn điệu chỉ trở đi trở lại như lật ngữa rồi lại lật nghiêng một cái bánh đang nướng trên lò thang hồng.

Xin trích ra đây một đoạn văn, thân gởi Nam Yên với bao sự kính trọng khi đọc xong bài viết:

" Để nhận định về một người, chỉ duy có một tiêu chuẩn đích thực là bảo rằng họ là một hiện hữu khồn đáng gọi là hiện hữu, nhưng họ hiện hữu là hiện hữu để đền tội bằng muôn ngàn đau khổ và sự chết.
Nếu thế, còn hy vọng gì nơi hiện hữu như vậy?
Tất cả mọi người chúng ta há không phải là những tên tội phạm đã bị lên án tử hình cả như thế là gì?
Vì điều mà ta phải đền tội, trước hết bằng khai sinh rồi bằng khai tử, chính là sự kiện ta đã sinh ra ở đời.
Ý tưởng ấy rõ ràng đã được cảm hứng trên những đỉnh núi cao vời vợi của minh triết Phật giáo Ấn Độ. Qua đó, mọi kiếp người đều được quan niệm như một biến dịch thành phức thể tự lòng của vô hạn. Nhưng cái lý tất nhiên của cuộc đời là hễ có sinh tất có tử. Sinh tử, tử sinh mới đem lại "hòa âm" hay "công bình" cho vũ trụ.
Đó là ấn tích ghi trên nét mặt của mỗi kiếp người.
Bài học đạo đức từ đó mà xuất phát.
Nói tóm lại, cả kiếp người, cả kiếp muôn vật đều mang nặng tính chất của một cái gì phức tạp. Mà tất cả phức tạp nào cũng tiềm chứa "tính chất mâu thuẫn luôn luôn tự tiêu diệt và tự hủy thể chính mình"
Tựu chung, chính sự chết chóc, tang tóc của vạn vật lại đồng thời là lẽ sinh hóa, tồn vong của vạn vật"

(Lê Tôn Nghiêm, Lịch sử triết học Tây phương - Tập 1, tr.75-76)

Và thêm đây nữa:

"Một khoanh tròn trên trang giấy trắng, trong quan hệ tồn tại với trang giấy, nó chỉ là một khoanh tròn, chứ không là gì khác. Nhưng khi nhiều chấm, nhiều đường hoặc cong hoặc thẳng được thêm vào quanh nó, bấy giờ, trong quan hệ với tất cả các đường nét này, khoanh tròn ấy bỗng trở thành mặt trăng, mặt trời, hay cái gì khác nữa. Tâm tư người quan sát, thưởng ngoạn, cũng tùy theo đó mà thay đổi, buồn vui, hoài niệm, yêu ghét. Chỉ một cái nhìn bất chợt ấy nhiều khi thay đổi số mẹnh cả một đời người, và cũng có thể thay đổi hình ảnh của cả thế giới trong đó với vô số chúng sinh bị đọa đày hay hạnh phúc.
Một khoanh tròn, những chấm, những đường cong uốn lượn, trong tồn tại tự thân, chúng tồn tại như là thực tại im lìm bất động trong thế giới tịch mặc vô ngôn. Chúng nằm im trong nguyên vị và nguyên thể của chúng. Nhưng khi được gắn quan hệ với nhau, được cấu trúc lại thành những tồn tại quan hệ, tất cả chúng bất chợt đồng loạt đứng dậy. Chúng trình diện như những gì không phải là chúng, dù vậy mỗi cái vẫn nguyên vị trí, vẫn nguyên tự thể của nó. Một chùm vạch thẳng đột nhiên dứng dậy thành một gốc cây. Những đường cong uốn lượn chợt đứng dậy thành dãy núi.
Tất cả đồng loạt đứng dậy, mà không có cái gì được dựng đứng cả"

(Tuệ Sĩ, Huyền thoại Duy-Ma-Cật, tr.219)
tổng cộng: 4 | đang hiển thị: 1 - 4
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả