Chuyến đi Huế mùa Xuân năm 1936
Kích thước chữ: Decrease font Enlarge font

Chuyện cách nay hơn 70 năm, ấy là vào mùa Xuân năm Bính Tý, nhận lời mời của Hội An Nam Phật học, đoàn đại biểu Hội Phật giáo Bắc kỳ đã đáp chuyến xe lửa tốc hành vào Huế để tùy hỷ và khảo sát các công việc tổ chức của Hội Phật học ở Huế.

Đoàn gồm Hòa thượng Trung Hậu - Chánh Giám viện chùa Quán Sứ, Hòa thượng Phan Trung Thứ (Tổ Bình Vọng, tức cụ Sở), cụ Bộc (trụ trì chùa Bộc, Hà Nội), Thượng tọa Trí Hải và sư ông Thanh Tín ở Khuyến Lương là đệ tử cụ Giám Hương Tích đi theo vào học trong trường Đại học của Hội Phật học Huế và một vị hành giả. Cụ Sở và cụ Bộc mang đi 3 bộ luật Tứ phận hành sự sao tu trì ký vào cúng Hội Phật học trong Huế.

Hôm ấy là ngày gần kỳ tế Nam Giao và đương hội chợ Huế, khách đi rất đông. Lên tàu thì đã thấy cụ Nguyễn Năng Quốc là Hội trưởng Hội Phật giáo Bắc kỳ và các quan vào tế Nam Giao ở trên tàu.

Đúng 13g00 tàu chạy, qua tỉnh Hà Nam, Nam Định; 16g00 đến ga Ninh Bình, thấy cụ Tăng cang chùa Phúc Chỉnh đón ở sân ga. Cụ cũng mang đi 4 bộ Phật bản hạnh vào cúng Hội Phật học Huế.

Từ Ninh Bình trở vào đường đi mỗi lúc một vắng, tàu chạy lại càng nhanh, ngoảnh đi ngoảnh lại không mấy đã tới Thanh Hóa, rồi qua Vinh, Đồng Hới, Đông Hà, cứ mỗi ga khách lên càng đông.

Khi tàu chạy tới ga Huế thì đã 4g35 phút. Cụ Nguyễn cùng các quan về dinh các quan Thượng, còn Đoàn được hai vị sư chùa Tây Thiên đón đi qua đường Nam Giao. Trời lất phất mưa xuân, đường đi hơi trơn. Xe đi thong thả, hai bên đường là những cây thông cổ thụ cành lá um tùm, đi đến ngót một giờ mới vào tới chùa Tây Thiên.

Chùa tọa lạc ngay trước đàn Nam Giao, trên một cái đồi, lối vào mở rất rộng, đi xe hơi vào tận sân. Hai bên ngõ và cửa chùa đều đồng thông cả, thật là một chốn tùng lâm u tịch, một nơi lan nhã thanh cao.

Thăm chùa Tây Thiên

Đoàn xe kéo vừa vào đến sân, thì trông vào trong nhà đèn đốt tưng bừng, chư tôn đức ra chào hỏi rất vui vẻ. Vào nhà yên tọa, có một vị giới thiệu với đoàn vị nào là Tăng cang, vị nào là Chủ trì, cùng những vị Giảng sư, những học sinh trường Đại học và Trung học ở chùa. Xong đến lượt Thượng tọa Trí Hải đứng lên giới thiệu các cụ ngoài Bắc với các sư của chùa.

Uống nước vừa xong thì trông ra trời đã tang tảng sáng, quan sát xung quanh, ngài Trí Hải rất ngạc nhiên thấy trong nhà bày đặt một cách rất ngăn nắp, nào tủ sách bàn ghế, bảng, địa đồ, như một trường học, sau có một vị bảo cho biết đấy là trường dạy lớp Đại học và Trung học của Hội Phật học Huế.

6 giờ sáng, các cụ, các sư trong đoàn lên chùa lễ Phật, xem chùa. Chùa làm kiểu Tàu tuy nhỏ, mà cách thờ rất tôn nghiêm: chính giữa chùa thờ có một pho tượng Đức Di Đà tiếp dẫn, còn hai bên tả hữu chỉ thờ bình thường, phía sau thờ Tổ, hai bên làm Tăng phòng. Ra xem cảnh xung quanh nào vườn hoa vườn tháp, cây cối vườn đất coi rất ngoạn mục. Cảnh chùa này mới khai thác hơn 30 năm nay mà cảnh trí đã sửa sang thành một nơi tùng lâm trông rất hùng vĩ.

Đồng hồ vừa đánh 8 giờ, cách mấy phút sau tiếp mấy tiếng hiệu cho các học sinh vào. Các cụ chùa Tây Thiên có ý sợ các sư trong đoàn mệt, mời đi nghỉ, nhưng Thượng tọa Trí Hải thì thấy vui quá quên cả mệt, khi các học sinh vào học, Ngài xin phép vào xem và thấy cách dạy học rất có quy mô trật tự, phương pháp dạy học trò rất dễ hiểu, khác hẳn với lối học bình văn giảng nghĩa như ngày xưa, học đủ cả khoa học, triết học v.v..., cũng gồm đúng như quy củ của các trường Pháp Việt luc bấy giờ.

Giờ nào học, giờ nào viết, giờ nào tập thể dục, giờ nào tập làm văn, giờ nào viết ám tả, giờ nào nghiên cứu, giờ nào vấn đáp, các thì giờ học tập rất phân minh, không giống quy củ trường học Hạ ngoài Bắc tí nào cả.

Được xem qua cách dạy học, cách học của trường Phật học Huế, Thượng tọa lại nghĩ đến cách dạy học, cách học thiền gia ở Bắc từ trước đến giờ dạy rất khó hiểu, rất lâu tấn tới, mà Ngài cảm thấy đáng tiếc cho cái tư chất thông minh của các vị hậu tiến xuất gia ở Bắc.

Ngài ước ao sao các bậc thượng đức nghĩ đến Phật pháp, thương đến lũ sau, phát tâm bồ đề, ra tay tế độ, chỉnh đốn lại sự học trong Tăng giới, để đào tạo lấy người sau này tuyên dương giáo hóa của Phật, thì công đức biết chừng nào!

Sang thăm chùa Trúc Lâm

Các sư ở Tây Thiên đưa đoàn đi lối tắt chừng 1 cây số sang chùa Trúc Lâm. Sáu giờ tối sang đến nơi, trông phong cảnh lại có phần sầm uất vui vẻ hơn chùa Tây Thiên. Vị trụ trì chùa là Hòa thượng Giác Tiên hồi đầu năm 1936 đã ra chùa Quán Sứ, Hà Nội dự đại lễ suy tôn Thiền gia Pháp chủ ở Bắc kỳ. Trường Tiểu học của Hội mới mở từ tháng Giêng năm nay ở chùa Trúc Lâm mà đã có 60 học sinh. Trường dạy rất có quy củ.

Trường lại có Hòa thượng ở chùa Thập Tháp trong Bình Định ra giảng kinh cho các sư và các cư sĩ nghe; năm nay Ngài đã ngót 70 mà người trông rất khỏe mạnh. Ngài rất thông minh và hết lòng vì đạo. Chùa Ngài rất to lại nhiều đệ tử, nhưng Hội An Nam Phật học thỉnh ra dạy kinh thì Ngài vui lòng ra ngay. Từ chỗ Ngài ở ra Huế còn xa hơn Hà Nội vào Huế. Tối hôm ấy đoàn ở lại nghe giảng kinh “Lăng Già Tâm Ấn”. Ngài giảng rất khúc chiết minh bạch, có cả các sư Ni và cư sĩ đến nghe.

Tọa đàm với Bác sĩ Lê Đình Thám

12 giờ 30, ông Lê Đình Thám và ông Hoàng Mộng Lương tới chùa thăm đoàn. Chư Hòa thượng, Thượng tọa trong đoàn tiếp chuyện hai ông trong ngót 2 tiếng đồng hồ, đàm đạo rất vui vẻ. Thượng tọa Trí Hải có nhận xét: “Xem ra hai ông tuy là người tại gia song về đường Phật pháp có phần thấu hiểu lắm. Ông Thám nhờ được tư chất thông minh đã sẵn có, lại có tính chuyên cần học hỏi, hiện nay ông đương làm bác sĩ, làm Phó Hội trưởng Hội Phật học và chủ nhiệm tạp chí Viên Âm, ngoài thời gian lo các công việc trên, ông vào chùa học kinh, hay dạy học giúp các sư.

Ông có nói: “Nếu muốn làm việc Phật cần phải có tín căn chắc chắn, học cho thông hiểu Phật pháp, không thì cái việc mình làm đó khó mà tránh khỏi sự sai lầm, mà đã sai lầm, không những khổ riêng cho mình mà lại hại cả cho hết thảy chúng sinh nữa”.

Đi thăm các chùa ở Huế

Buổi chiều các cụ trong chùa Tây Thiên cho thầy Chính Thống đưa đoàn đi thăm các chùa. Đi xe hơi qua đường Nam Giao, đến hội chợ, sang cầu Tràng Tiền sông Hương, 12g15 đến chùa Diệu Đế.

Vào chùa xem xong ra ô tô lên chùa Thiên Mụ, quanh về xem Hoàng thành, trở về chùa Báo Quốc, chùa Tường Vân, 16g15 sang chùa Từ Quang là hội quán tạm thời của Hội Phật học.

Chiều hôm đó Hội làm cơm ở đấy đãi đoàn. Đến 8 giờ tối có diễn thuyết. Các sư và tất cả hội viên cùng thính giả đều vào trước bàn Phật làm lễ độ nửa giờ rồi xuống nhà giảng nghe diễn.

Trước khi diễn, Thượng tọa Trí Hải thay mặt đoàn chúc mừng Hội An Nam Phật học, và nói đại ý việc đoàn vào đây. Ông Lê Đình Thám trả lời. Xong, ông diễn về vấn đề “sự lý”. Đại ý ông nói: “Hết thảy trong thế gian và xuất thế gian cái chi cũng đều có sự có lý cả”. Ông nói hơn một tiếng đồng hồ, được các thính giả rất hoan nghênh. Xong, đoàn lại về chùa Tây Thiên nghỉ.

Đi xem trong thành nội và các lăng

Cụ Hội trưởng xin phép cho đoàn được vào xem tất cả các cung điện trong nội thành. Xong, đoàn đến thăm cụ Thượng Nguyễn Khoa Tân là Hội trưởng Hội Phật học Huế và đến chơi nhà ông Lê Đình Thám, 11 giờ hơn về chùa thụ trai.

Buổi chiều đi xem các lăng vua Khải Định, Thiệu Trị rồi sang xem lăng vua Đồng Khánh gần đấy. Kế sang xem lăng vua Tự Đức. Các lăng mỗi cái một kiểu rất hùng vĩ, mỗi cái làm ít ra cũng phải tốn đến 3, 4 chục vạn đồng. Xem các lăng rồi về chùa Từ Hiếu và ăn cơm chiều ở chùa Trúc Lâm. Tối lại về chùa Tây Thiên nghỉ.

Thơ mừng Hội Phật học Huế

Trong buổi tọa đàm với Bác sĩ Lê Đình Thám và ông Hoàng Mộng Lương, đoàn có làm thơ (chữ Hán) chúc mừng Hội An Nam Phật học, mở đầu là bài của cụ Bằng Sở:

Nghìn dặm xa xăm tới thượng thuyền,
Bát y ướm hỏi ấy ai truyền,
Nhân duyên hội ngộ nhiều cơ mới
Ý vị phân minh lắm bậc hiền,
Hay hẳn có người trương chủ đó,
Hóa nên Phật học dễ mau liền,
Thôi thôi đã tỏ “tây lai ý”,
Phong cảnh nhìn xem sắc tự nhiên.

Bài của cụ Phúc Chỉnh:

Từng đoái đa sinh gẫm túc duyên,
Xuân kính xa cách bỗng nên liền,
Thông reo trúc Hóa vui mùi đạo,
Núi Ngự sông Hương rạng cảnh tiên,
Phật học tiếng thơm lừng Đế Quyết,
Pháp âm hội mở nức Nam thiên,
Bắc Trung khế hợp cơ mầu niệm,
Bái khánh Nam Giao chúc đại thuyền.

Thượng tọa Trí Hải họa bài cụ Sở:

Thân này vui khổ đã qua,
Giữ sao cho được lòng ta vẹn toàn.
Sáu căn chớ để lăng loàn,
Chút trần chẳng vướng mới an tính mình.
Tưởng trong bể khổ, à kinh!
Trông với Cực lạc xiết tình vui thay!
Chúng sinh cùng một ý này,
Còn tìm đâu thấy những loài si mê.

Ông Lê Đình Thám họa bài cụ Sở:

Văn thân nổi tiếng chốn Thuyên kinh (1)
Trăng sáng, rồng bay đẹp Huế Thành,(2)
Tự giác đổi thay thành đại giác,
Vô minh thấu triệt Hóa viên minh,
Nghiệp duyên vốn có qua Tam biến3,
Pháp giới chân không vượt Tứ sinh (4),
May quá thời nay gặp đại đức,
Mong đem Đuốc Tuệ (5) cứu mê tình.

Hòa thượng Quảng Độ họa bài cụ Sở:

Dấu tích cửa Tùng duyệt sách in (6),
Chiều tà bảng lảng ngắm cung thành,
Tâm vua trầm tĩnh cơ thiền ngộ,
Tuệ đuốc phong quang giới nhãn minh,
Những muốn ánh hào soi bóng tối,
Mong cầu nước phép tẩy màn sinh (7),
Đếm thiên lá bối trèo lên đỉnh (8),
Ngày hướng tòa sen rõ thế tình.

Ba bài đầu đã dịch và đăng trên báo Đuốc Tuệ, hai bài sau báo chỉ đăng chữ Hán, được đại tá CCB, Phật tử Đinh Thế Hinh dịch tháng 10 năm 2008.

Chuyến đi của đoàn đại biểu Hội Phật giáo Bắc kỳ vào Huế những ngày đầu xuân năm Bính Tý 1936 không chỉ thắt chặt tình đồng đạo giữa Hội Phật giáo Bắc kỳ và Hội An Nam Phật học mà còn giúp Phật giáo xứ Bắc trong việc tìm hiểu quy mô mở trường Phật học đào tạo Tăng tài góp phần chấn hưng Phật giáo những năm sau này.

Đó cũng là cái tâm trong sáng của các bậc tiền đức luôn mong mỏi đoàn kết học hỏi lẫn nhau để mầm xuân trí tuệ Phật giáo dũng mãnh tinh tiến vươn lên. Đó cũng là bài học đáng để đàn hậu tấn chúng ta học tập trong những ngày đậm sắc xuân này.

Nguyễn Đại Đồng (Theo Giac Ngo Online)

(1) Thuyên kinh: nơi giải thích kinh sách có lý lẽ, có sức thuyết phục.

(2) Nguyên văn là Hóa thành, tức thành Thuận Hóa.

(3) Tam biến: ba lần biến đổi, truyện nhà Phật viết rằng: Đức Thích Ca sinh thời tới núi Thứu Lĩnh dùng thần lực 3 lần biến đổi Uế độ thành Tịnh độ: lần 1: biến đổi cõi Sa Bà thế giới; lần 2: biến đổi 200 vạn ức Na Do Tha; lần 3: biến đổi thêm 200 vạn ức Na Do Tha thành nước cõi Tịnh độ.

(4) Tứ sinh: bốn loại sinh: 1. Thai sinh: gọi là phúc sinh, có bào thai sinh như người, động vật có vú. 2. Noãn sinh: từ trong trứng sinh ra như loài chim, bò sát... 3. Thấp sinh: từ chỗ ẩm thấp sinh ra như côn trùng. 4. Hóa sinh: không nương tựa vào đâu mà dựa vào nghiệp báo mà sinh ra (chúng sinh thủa sơ kiếp).

(5) Đuốc Tuệ ở đây có hai nghĩa: ngọn đuốc trí tuệ soi sáng vô minh, cứu mê tình và Báo Đuốc Tuệ của Hội Phật giáo Bắc kỳ mang giáo lý của Đức Phật Thích Ca truyền cho chúng sinh.

(6) Cửa Tùng: tùng lâm nơi các nhà sư tu học.

(7) Màn sinh: vòng sinh tử.

(8) Lá bối: Ngày xưa khi chưa có giấy, người ta viết kinh trên lá.

Đánh dấu lên: Chia sẻ trên Facebook Facebook | Twitter bài viết này Twitter | Chia sẻ trên Google Google |

Thư từ, tin tức, bài viết xin gửi về địa chỉ trisu@phattuvietnam.net. Để biết hướng dẫn viết tin, gửi tin, đăng tin, xử lý hình ảnh, xin bấm vào đây. Rất mong nhận được sự cộng tác của chư Tôn đức Tăng Ni, quý Phật tử và độc giả gần xa

Subscribe to comments feed Phản hồi (0 bài gửi):

Gửi phản hồi của bạn comment


Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt

Xin hãy nhập vào mã bạn nhìn thấy trong hình dưới đây:

  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Đánh giá bài viết
0
Thông tin tác giả
Admin

Từ khóa trong bài
Bài viết này không có từ khóa nào
Powered by Vivvo CMS v4.1.1