Tư Vấn: Niệm Phật cầu sanh Tịnh độ

Pháp môn niệm Phật có công năng rất thù thắng cho mọi căn cơ của chúng sanh mà ứng hiện vi diệu, nhất là giây phút cuối cùng trước lúc lâm chung.

HỎI: Con thường nghe quý Thầy dạy về Pháp môn niệm Phật để cầu vãng sanh Tịnh độ nhưng hiện tại con chưa hiểu rõ lắm. Vậy con kính nhờ quý Thầy Cô hoan hỷ chỉ dạy thêm, giúp con vững và từ đó có niềm tin hơn về pháp môn ấy trong khi hành trì tu tập?

(BS. Nguyễn Hữu Lương - Bệnh viện Trung tâm Nhiệt Đới, 190 bến Hàm Tử, Q.5, P.HCM)

ĐÁP:

Cổ đức thường nói:

“Sống là khách qua đường

Chết là về cố hương.”

Câu nói này thật khó tin, vì đối với người tâm trí còn mê mờ tưởng rằng cõi Ta-bà là nơi dừng chân để thụ hưởng khoái lạc, chứ không hiểu thế gian là cõi tạm, muôn pháp đều là không. Chính điều đó đã dẫn dắt con người mê lại càng mê, hằng ngày chỉ biết trau chuốt thân này và chìm đắm trong lục dục thất tình. Như vậy, nếu chúng ta không tự cảnh tỉnh để chuyên tâm trì niệm thì làm sao có thể vãng sanh về cõi Cực Lạc.

Như thế, muốn thoát khỏi cảnh tượng đó, trong kinh A-di-đà nói: “Một niệm siêu ba cõi, một lời ngang với Thánh Hiền, thật là diệu dụng bất khả tư nghì…”, đây là nhân duyên phát khởi pháp môn trì danh niệm Phật. Hơn nữa, đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni quán thấy tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng do bị vô minh che lấp nên không thể thấy được tự tánh Như Lai. Tuy có tám mươi bốn ngàn  pháp môn, nhưng “Pháp môn niệm Phật” là dễ hành trì nhất. Từ đứa trẻ lên ba đến cụ già tám mươi đều có thể tu tập pháp môn này.

Thật vậy, chỉ có sáu chữ “Nam mô A-di-đà Phật” bất luận lúc nào, ở đâu hành giả cũng có thể trì niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Ngài là tha lực để trợ duyên cho chúng ta sau khi mạng chung sẽ được sanh về cõi Cực Lạc, nếu niệm đến “nhứt tâm bất loạn” thì đức Phật A-di-đà liền đến tiếp độ. Điều đó nói lên rằng trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn quán tưởng danh hiệu Phật và trì niệm từng chữ rõ ràng từ lời nói đến hành động, niệm niệm sanh khởi không gián đoạn, chính ngay cõi ta bà này là cõi Tịnh độ. Ngày nay, pháp môn niệm Phật rất hợp với căn cơ của chúng sanh, vì tự lực khó có thể đạt đạo, nên chúng ta phải nhờ tha lực của Phật A-di-đà tiếp dẫn mới sanh về cõi An dưỡng Tây Phương. Cho nên, niệm Phật là tư lương cần thiết trước lúc lâm chung. Để có kết quả tốt đẹp, hằng ngày, chúng ta nên kết duyên với bạn đồng tu để trợ duyên cho nhau khi đau ốm, khốn cùng. Nhất là giờ phút cuối cùng phải được nghe câu niệm Phật. Đó là phương tiện giúp cho người bệnh nhứt tâm trì niệm “Nam mô A-di-đà Phật”. Nếu không có người trợ duyên nhắc nhở thì người bệnh sẽ bị loạn tâm, chỉ nhớ đến của cải vật chất hoặc tình cảm luyến ái của gia đình. Đối với người niệm Phật trợ duyên, cần phải bình tĩnh dồn hết tâm lực để cầu nguyện cho người bệnh an tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Đó là ngoại duyên giúp người bệnh đoạn trừ tâm tham luyến và nhận biết cõi đời là giả tạm không chơn thật. Như câu chuyện của vị thiền sư “Trước lúc lâm chung vì tham đắm cây mía sau vườn, hằng ngày thiền sư thường vun xới chăm bón, cho nên khi lâm chung hóa thành con sâu nằm trong lá mía…”. Như thế người tu Tịnh độ phải tịnh tâm quán xét, dứt trừ lòng tham ái, tâm tâm niệm niệm hướng về cõi Tịnh để trước lúc lâm chung không bị loạn động vì nghiệp lực lôi kéo.

Thật không thể nghĩ bàn, niệm Phật là pháp môn vi diệu, nhờ tha lực của Phật A-di-đà mà chúng ta giữ vững niềm tin ngôi Tam bảo. Vì tín là một trong ba món tư lương (Tín, Hạnh, Nguyện) làm phương tiện cho hành giả tu tập pháp môn niệm Phật, cho nên muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc, hành giả cần phải hội đủ ba món tư lương này. Nghĩa là trước lúc lâm chung, chúng ta phải giữ vững chánh tín, phải tin vào bản thân mình, tin có thế giới Cực Lạc và quyết định sẽ sanh về cõi Tịnh độ. Có phải cõi Tây phương cách xa mười vạn ức thế giới hay rất gần gũi? Thật ra, cõi Tịnh Độ rất gần, chỉ trong một niệm hiện tiền thì chúng ta đã kiến tạo cho mình một thế giới Tịnh Độ ngay trong tâm của chính mình. Nếu như chúng ta không nhận biết “chơn tâm” xưa nay của mình thì không thể sanh về thế giới Cực Lạc. Ngược lại, khi nhận ra chơn tâm rồi thì chắc chắn sẽ thác sanh về cõi Tịnh Độ. Cho nên nói thế giới Cực Lạc không cách xa chúng ta là vậy. Thực tế, khi tâm chúng ta không tạp niệm, không đố kỵ, không chướng ngại, không ích kỷ,… luôn thực hành hạnh lợi tha vô ngã, đó chính là thế giới Cực Lạc.

Như vậy, niệm Phật là pháp môn thông dụng nhất hiện nay, từ bậc thượng căn cho đến bậc hạ căn đều có thể tu tập pháp môn này. Khi luận bàn về pháp môn niệm Phật tuy nói là rất dễ, song đối với người trước lúc lâm chung là rất khó. Tại sao? Vì lúc đó thần thức của người sắp lìa trần thế khó có thể định hướng, phải tùy theo nghiệp cảm thiện hay ác mà được vãng sanh hoặc không vãng sanh. Tuy nhiên, đến phút cuối cùng nếu người đó nhận biết được muôn pháp đều giả hợp, đời là vô thường nên tâm trí lúc đó “nhứt tâm bất loạn”, chỉ còn lại một câu niệm Phật duy nhất “Nam mô A-di-đà Phật”, vị đó liền vãng sanh Cực Lạc. Đây là phút quan trọng để quyết định vãng sanh. Hơn nữa, trước lúc lâm chung, hằng ngày do vị ấy đã gieo trồng thiện căn nhiều đời, chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật nên được đức Phật A-di-đà tiếp dẫn. Đồng thời, trải qua bao a tăng kỳ kiếp nay hội đủ duyên lành mới có thể trực vãng Tây Phương. Chúng ta có thể khẳng định rằng pháp môn niệm Phật có công năng rất thù thắng cho mọi căn cơ của chúng sanh mà ứng hiện vi diệu, nhất là giây phút cuối cùng trước lúc lâm chung.

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: trisu@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (2 bài gửi)

PH HUNG 21/12/2010 20:02:09
TÔI SƯU TẦM ĐƯỢC TÀI LIỆU NÀY, XIN ĐƯỢC CHIA SẺ.

Phương pháp niệm Phật
Mục đích của pháp niệm Phật A Di Đà là đưa đến nhất tâm, chế ngự mọi vọng tưởng của tâm. Niệm Phật là thực hành chánh niệm, như vậy về mặt bản chất, pháp môn niệm Phật không khác biệt với thiền quán, là cốt lõi của các pháp môn.
Phương pháp niệm Phật có bốn cách:
1- Trì danh niệm Phật: Niệm danh hiệu Phật A Di Đà, hoặc niệm thầm hoặc phát âm thanh.
2- Quán tượng niệm Phật: Niệm Phật và chăm chú nhìn vào tượng Phật, thấy rõ tướng tốt của Phật, hoặc tướng tốt của các Bồ tát và Thánh chúng.
3- Quán tưởng niệm Phật: Quán tưởng hình ảnh của Đức Phật A Di Đà cho đến khi thấy được linh ảnh của Đức Phật. Pháp quán này khác với quán tượng là không sử dụng hình ảnh bên ngoài. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ đề cập đến 16 pháp quán.
4- Thật tướng niệm Phật: Niệm Phật đạt đến chỗ vô niệm, không còn chủ thể và đối tượng. Pháp quán này mang sắc thái Thiền hơn là Tịnh độ cho nên không phổ biến được.
Phương pháp tu Tịnh độ được nhiều người chấp nhận và hành trì, nhất là Trì danh niệm Phật, ai thực hành cũng được. Có thể niệm lớn tiếng gọi là Cao thanh trì. Niệm thầm gọi là Mặc trì. Mấp máy môi mà không ra tiếng gọi là Kim cang trì. Người xưa còn đưa ra 4 sắc thái niệm Phật: Hòa hoãn niệm là niệm từ từ không cần gấp, không nôn nóng, chỉ cần bền bỉ, có thể vừa làm việc vừa niệm Phật, không cần "tu mau kẻo trễ"; Thứ hai là Truy đảnh niệm, là đưa câu niệm Phật nằm trên đỉnh cao của dòng tâm thức, nghĩa là niệm Phật luôn hiện tiền, không bị chi phối bởi công việc, quyết chí cao, ấn định thời gian và cần có kết quả rõ. Thứ ba là Thiền định niệm, tức trụ tâm vào định rồi sử dụng tâm định ấy mà niệm Phật. Đây là lối tu dựa trên cơ sở truyền thống nguyên thủy, khi tâm đạt định, hướng tâm ấy về tam minh, ở đây hành giả hướng tâm về cõi Tịnh độ và Đức Phật A Di Đà. Thứ tư là Tham cứu niệm, là cách niệm Phật ảnh hưởng thiền công án, như nêu câu hỏi: Niệm Phật là gì? Sự nung nấu nghi tình đến đỉnh cao sẽ bùng vỡ ý thức và giác ngộ. Sắc thái này mang dấu ấn của Thiền hơn là của Tịnh độ.
Kết luận
Tịnh độ tông chú trọng vào niềm tin của cá nhân và sự cứu độ của Đức Phật A Di Đà. Pháp tu chủ yếu là niệm danh hiệu Phật A Di Đà và quán tưởng đến thế giới Cực lạc. Đây là một tông phái được phổ biến rộng rãi nhất và cũng được nhiều tông phái khác phổ biến và hành trì. Pháp môn niệm Phật là con đường tu tập khá phù hợp với nhiều căn cơ khác nhau. Thực ra, pháp môn niệm Phật có từ thời Phật giáo Nguyên thủy, Đức Phật dạy các đối tượng quán niệm trong đó niệm Phật là đứng đầu, vì đây là đối tượng dễ đưa tâm vào chánh niệm, trong Phật giáo Nguyên thủy, ý nghĩa về Phật lực đã được bao hàm trong pháp niệm Phật. Qua thời kỳ tiền Đại thừa, luận sư Nagasena (Na Tiên Tỳ kheo) chủ trương thuyết cứu độ qua cuộc vấn đạo của vua Milinda (hoàng đế Hy Lạp). Vua cho rằng không thể chấp nhận được khi một người ác lại được cứu độ nếu y tin tưởng vào một vị Phật vào đêm trước ngày chết. Nagasena đáp: "Một hòn đá dầu nhỏ cách mấy vẫn chìm trong nước, nhưng một tảng đá vẫn nổi trên nước nếu đặt lên thuyền". Về sau, các luận sư Đại thừa triển khai triệt để hơn về thuyết Phật cứu độ và qua kinh điển, Tịnh độ tông tiêu biểu rõ cho luận thuyết ấy.
Con đường giải thoát của đạo Phật căn bản là ở tâm, tức là nỗ lực cá nhân, pháp môn Tịnh độ vẫn không ngoài đường lối ấy, hòn đá lớn nhờ thuyền chở mà nổi trên nước, nhưng vận chuyển hòn đá ấy lên thuyền phải là công phu tự thân, để có được 10 niệm nhất tâm và sự cứu độ của Phật, hành giả phải có công phu tích lũy lớn, nghĩa là có một quá trình tu tập. Sau này, khi các tông phái khác phát triển đã ảnh hưởng đến tư tưởng Tịnh độ, nhất là tư tưởng Tịnh độ tại tâm như "Tự Tánh Di Đà, Duy Tâm Tịnh độ" làm cho pháp môn Tịnh độ có tính tự lực nhiều hơn nhưng có lẽ đó không phải là bản ý của Tịnh độ tông.
Để kết luận, xin dẫn lời bàn về niệm Phật của nhà vua, Thiền sư Việt Nam thời Trần là Trần Thái Tông trong tác phẩm Khóa hư lục: "Người niệm Phật có ba bậc: bậc thượng trí thì tâm tức Phật chẳng nhờ tu chứng, thân Phật là thân ta không có hai tướng, tánh tướng không hai, tịch mà thường còn, còn mà chẳng biết. Đó là hoạt Phật. Bậc trung trí phải nương vào niệm Phật, chú ý chuyên cần, niệm Phật không quên tự nhiên thuần thiện. Niệm thiện đã hiện niệm ác liền tiêu. Niệm ác đã tiêu duy còn niệm thiện. Bởi niệm ý niệm niệm niệm tất diệt. Khi niệm đã diệt, ắt về chánh đạo. Tới khi mạng chung được vui Niết bàn. Bậc hạ trí thì miệng chuyên niệm lời Phật, tâm muốn thấy tướng Phật, thân nguyện sinh nước Phật, ngày đêm siêng năng không thoái chuyển. Sau khi mạng chung thì nhờ thiện niệm đó được sinh sang nước Phật, nghe Phật nói pháp mà chứng đạo Bồ đề". Ngài kết luận ba hạng người trên đây sâu cạn khác nhau nhưng mục đích và kết quả là một, tuy nhiên bậc thượng trí nói thì dễ làm thì khó, bậc trung trí nếu chuyên cần nỗ lực sẽ thành tựu trong đời này nhưng nếu nghiệp nặng chưa dứt thì khó thành tựu, bậc hạ trí lối tu lấy niệm Phật làm nấc thang bước từng bước vững chắc được qua nước Phật rồi thì chí nguyện sẽ thành. Vậy muốn thành tựu cái siêu việt phải bắt đầu bằng cái đơn giản.


Nguyện đem công đức hiện tiền,
Hướng về khắp cả các miền gần xa.
Con và cha mẹ, ông bà,
Chúng sanh giác ngộ, chan hòa pháp thân.
huaphuonglien 09/10/2010 22:53:45
con kinh mong quy thay chi day giup con de co the tung kinh phap hoa.con xin cam on
tổng cộng: 2 | đang hiển thị: 1 - 2
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả