Ðức Phật đã nói gì về việc ăn thịt?
image

Ngay từ lúc đạo Phật được thành lập hơn 2500 năm về trước, các Tăng Ni vẫn sống nhờ vào việc khất thực. Trước kia và hiện giờ cũng vậy, họ không được phép trồng tỉa lấy lương thực, không được tích lũy thực phẩm, cũng như không được tự nấu nướng thức ăn.

Thay vào đó, mỗi buổi sáng họ dùng bữa của mình bằng cách sử dụng bất kỳ thứ gì các Phật Tử đã tự nguyện dâng cúng cho họ. Cho dù thức ăn có giàu năng lượng hay kém phẩm chất, khoái khẩu hay khó ăn, tất cả đều được họ chấp nhận với lòng tri ân và được xem như là dược phẩm để duy trì sự sống. Ðức Phật đã đặt ra nhiều giới luật ngăn cấm chư Tăng không được đòi hỏi thức ăn mà họ ưa thích. Kết quả là chư Tăng chỉ nhận các loại thực phẩm giống hệt như thức ăn người dân thường hay sử dụng -- và thông thường thì các thực phẩm đó có chứa thịt cá.

Một lần nọ, có một vị tướng giàu có và đầy uy thế tên là Siha (nghĩa là "Sư tử") đến thăm Ðức Phật. Tuớng quân Siha trước kia là đồ đệ hết lòng ủng hộ các tu sĩ Kỳ-na giáo; nhưng ông rất cảm động và cảm kích sau khi nghe những lời dạy của Ðức Phật, nên ngay trong buổi gặp gỡ đó, vị tướng này đã xin quy y Tam Bảo (nghĩa là trở thành Phật tử). Sau đó, tướng quân Siha mời Ðức Phật cùng với một số rất đông các vị chư Tăng đến nhà của ông trong thành phố để dùng cơm vào buổi sáng hôm sau. Ðể sửa soạn cho bữa cúng dường thức ăn đó, tướng quân Siha ra lệnh người đầy tớ đi mua một số thịt ở chợ để dùng vào dịp lễ này. Khi các vị tu sĩ Kỳ-na giáo nghe biết được sự quy y Phật Pháp của người bảo trợ cũ của họ và ông ta đang sửa soạn một bữa cơm cúng dường Ðức Phật cùng chư Tăng, họ trở nên bực tức và nói rằng:

    "Từ nay sẽ có nhiều vị đạo sĩ Ni-kiền (tu sĩ Kỳ-na giáo) vẫy tay, than phiền từ đường xe ngựa này đến đường xe ngựa khác, từ khắp ngã rẽ này sang ngã rẽ khác trong thành phố, rằng: Ngày hôm nay tướng quân Siha đã giết một con vật béo, để dọn một bữa tiệc thiết đãi ẩn sĩ Cồ Ðàm (Ðức Phật). Ẩn sĩ Cồ Đàm đã cố ý ăn thịt từ con vật mà ông ta biết đã được giết để thiết đãi ông ta và các vị chư tăng đi theo; và việc này được thực hiện chỉ vì ông ta mà thôi" [1]

Thật ra, tướng quân Siha đã phân biệt rất hợp với đạo đức, giữa một bên là thịt mua tại chợ đã được giết mổ sẵn để bán và bên kia là mua một con vật còn sống và ra lệnh giết. Sự phân biệt này không mấy hiển nhiên đối với một số người Âu Mỹ, nhưng đã được ghi chép rất nhiều lần trong giáo lý của Ðức Phật. Thế rồi, để xác định rõ thái độ về việc ăn thịt cho chư Tăng, Ðức Phật dạy:

    "Này chư Tỳ-kheo, Ta cho phép các vị dùng thịt cá trong ba truờng hợp sau đây: thịt này phải chưa được các vị nhìn thấy, các vị chưa được nghe biết, hoặc giả chư vị không có gì phải nghi ngờ là con vật đó đã được sát sanh chỉ nhằm mục đích thiết đãi cho chư vị. Nhưng các vị không được cố tình sử dụng thứ thịt đã được giết chỉ dành cho các vị sử dụng mà thôi." [2]

Có nhiều đoạn trong Kinh điển Phật giáo cho thấy Ðức Phật và các vị chư Tăng của ngài được cúng dường thịt và các ngài cũng nhận để ăn. Một trong những đoạn kinh nầy được viết trong phần mở đầu câu chuyện liên quan đến một giới luật hoàn toàn không liên quan gì đến thịt (Ni-tát-kỳ Ba-dật đề, Xả đọa pháp, 5) và thoáng qua cho thấy thịt nói ở đây hoàn toàn chỉ là ngẫu nhiên đối với đề tài chính mà câu chuyện muốn nhấn mạnh đến tính xác thực của đoạn văn:

- Bà Uppalavanna (Liên hoa sắc) là một trong hai vị nữ đại đệ tử của Ðức Phật. Bà thọ giới tỳ-kheo-ni khi vẫn còn trẻ và chẳng bao lâu đã được giác ngộ hoàn toàn. Ngoài sự kiện bà là một vị A-la-hán, bà còn có nhiều uy lực thần thông đến độ chính Ðức Phật đã tuyên bố bà là người lỗi lạc nhất trong số tất cả các vị nữ đệ tử về mặt này. Một lần kia, trong khi bà Uppalavanna đang ngồi tham thiền một mình vào buổi trưa tại khu vườn "Người Mù", trong một cánh rừng hẻo lánh bên ngoài thành Xá-vệ, có một vài tên cướp đi ngang qua đó. Mấy tên cướp vừa mới đánh cắp một con bò, giết con vật và chạy trốn với một ít thịt. Vừa nhìn thấy một vị ni sư tham thiền điềm tĩnh và nghiêm trang, tên cướp đầu sỏ đã nhanh nhẹn bỏ một ít thịt bò trong một cái bao làm bằng lá cây và để lại cho ni sư. Ni sư Uppalavanna nhặt miếng thịt bò lên và quyết định dâng cúng cho Ðức Phật. Ngay sáng sớm hôm sau, sau khi đã nấu thức ăn với thịt đó, bà cất mình lên không trung và bay tới nơi đức Phật đang ngụ, tại Trúc lâm bên ngoài thành Vương xá, và như thế Ni sư đã bay một quãng đường trên 200 kí-lô-mét. Mặc dù không nghe nói đến việc Ðức Phật đã thực sự sử dụng món thịt đó, nhưng rõ ràng là một ni sư có nhiều thần thông ắt hẵn bà đã biết Ðức Phật dùng món ăn nào.

Tuy nhiên cũng có một số thịt đặc biệt cấm các vị chư tăng không được sử dụng. Đó là: thịt người, vì những lý do đã quá rõ ràng; thịt voi và thịt ngựa vì trong thời kỳ đó, hai con vật này được coi là thú vật của nhà vua; thịt chó - vì dân chúng thường coi chó là con vật ghê tởm; thịt rắn, sư tử, cọp, báo, gấu và linh cẩu - vì người ta tin rằng ai ăn thịt những loài thú rừng nguy hiểm này sẽ toát ra một mùi đặc biệt có thể khiến cho các con vật đồng loại tấn công người đó để trả thù.

Vào cuối cuộc đời Ðức Phật, người anh họ của ngài tên là Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) có ý định chiếm quyền lãnh đạo Tăng đoàn. Ðể có được hậu thuẫn của các vị khác, Devadatta đã cố gắng tỏ ra nghiêm khắc hơn cả Đức Phật và muốn chứng minh rằng Đức Phật có phần dễ duôi. Devadatta đề nghị với Ðức Phật là tất cả các vị Tăng Ni đều phải "ăn rau đậu" ("ăn chay trường"). Ðức Phật đã từ chối và một lần nữa Ngài nhắc lại một giới luật mà Ngài đã thiết lập nhiều năm về trước, qui định tất cả các Tăng Ni có thể ăn thịt hay cá, khi nào biết rõ thịt con vật đó không bị cấm sử dụng và khi họ không có lý do gì để nghi ngờ rằng con vật đó được giết đặc biệt dùng để chiêu đãi họ (Tam tịnh nhục).

Hồi đó, Luật đã đề cập rõ ràng đến vấn đề này. Các vị Tăng Ni có thể ăn thịt. Ngay cả Ðức Phật cũng đã dùng thịt. Tiếc thay, một số người Tây phương ngày nay thường xem việc ăn thịt đối với các vị Tăng Ni như là sự nuông chiều ưu đãi. Đó là một điều rất xa sự thật - vì tôi đã từng thực hiện việc "ăn chay trường" được ba năm trước khi trở thành một tu sĩ. Trong năm đầu khi tôi tu học tại vùng Ðông Bắc Thái Lan, tôi đã phải cố gắng đối diện với nhiều bữa ăn chỉ có cơm nếp với ếch luộc (ăn toàn bộ cả thịt lẫn xương), hoặc với ốc sên dai như cao su, hoặc kiến càng nấu với cà-ri, hoặc châu chấu chiên dòn - tôi nghĩ có lẽ người "ăn chay" là người tốt phước hơn! Nhân ngày Lễ Giáng Sinh đầu tiên tại miền Ðông Bắc Thái Lan, một người Mỹ đến thăm tu viện khoảng độ một tuần trước ngày 25 tháng 12. Thật khó có thể tin nổi, ông ta có một trại nuôi gà tây, và rồi, ông ta đã nhanh chóng nhận ra chúng tôi đang phải sống trong hoàn cảnh khổ sở như thế nào. Ông ta hứa sẽ đem đến cho chúng tôi một con gà tây để ăn Giáng Sinh. Ông ta bảo sẽ chọn một con gà tây thật to béo đặc biệt dành cho chúng tôi... và tôi thấy nản lòng. Chúng tôi không thể nhận thịt gà tây đó khi biết đích xác con vật bị giết lấy thịt đặc biệt để cho các vị tăng ni sử dụng. Chúng tôi từ chối không nhận món quà đó. Thế là tôi đành phải quay về với thức ăn của cư dân trong làng - lại cơm nếp với ếch luộc.

Các vị tăng ni không được lựa chọn gì cả khi đến bữa ăn và điều này còn khó khăn hơn là "ăn chay trường". Tuy nhiên, chúng ta có thể khuyến khích việc ăn rau đậu, và nếu như những vị cư sĩ hộ tăng đem đến cúng dường chư Tăng toàn là thực phẩm rau đậu và không có thịt, thì trong trường hợp đó, các vị sư cũng không phàn nàn. Mong rằng quí vị hiểu cho điều nầy, và hãy đối xử tốt với các loài thú vật.

Tỳ kheo Thiện Minh dịch

Tài liệu tham khảo

    [1] Book of the Discipline (Luật tạng), vol. 4, p.324
    [2] ibid, p. 325

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (22 bài gửi)

Van Thong 24/09/2011 09:15:22
Mô Phật.

Đức Phật dạy thế giới Ta Bà này bản chất vô thường và bị chi phối bởi nghiệp.

Chính từ chỗ này, quan niệm của con người về việc ăn chay hay ăn mặn chỉ là tương đối. Như rất nhiều thiện tri thức đã phân tích việc ăn chay hay ăn mặn đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến nghiệp sát. Vì vậy với vốn kiến thức Phật Pháp ít ỏi của mình, Vân Thông nghĩ rằng Đức Phật muốn giáo huấn chúng đệ tử rằng ăn chay hay ăn mặn chỉ thuộc về tính bề mặt. Điều đáng chú trọng là hãy ăn bằng tuệ giác nghĩa là:

-Không ăn thịt các con vật bị giết vì mình.
-Không ăn thịt khi nhìn hay nghe thấy con vật bị giết.
-Ăn từ tốn, chừng mực và biết quán chiếu ăn chỉ để nuôi thân để tu tập phụng sự chúng sanh, chứ không phải vì khoái vị. Do vậy, hồi hướng công đức cho các con vật bị giết.
-Khuyên người trực tiếp giết mổ khi làm hãy làm nhẹ nhàng và cầu nguyện cho con vật được siêu sanh.

Chúc quý liên hữu Phật Tử đều tròn thành Phật đạo.

Nam Mô A Di Đà Phật.
Tran Manh Tien 24/11/2010 23:30:23
Nếu không ăn chay được thì có hãy ăn mặn theo phép Tam Tịnh Nhục là:
- Trong thấy con vật bi giết thì không ăn thịt của nó.
- Nghe con vật kêu la khi bị giết thì không ăn thịt của nó
- Vì mình mà con vật bị giết thì không ăn thịt của nó
Thanh Đạm 18/09/2010 18:22:47
Cảm ơn Quý vị độc giả.Với Tôi-Tôi lại thấy và hiểu thế này:Phật Tổ đã răn dạy:Tỗi lỗi do TAM ĐỘC (thân,khẩu và ý )và đòi hỏi của LỤC CĂN - ĐỐI vỚI LỤC TRẦN mà sinh mọi tội lỗi.Vậy tuy không sát sinh đấy nhưng ta làm đồ chay hay mua đồ chay Ý nghĩ và con mắt của ta đều xác nhận "đồ chay đó nháy món mặn".
Vậy theo tôi cái chính là THẨM THẤU GIÁO LÝ CỦA PHẬT VÀ THỰC HÀNH TU CHO TỐT , PHẢI THẤU HIỂU TAM VÔ LẬU HỌC VÀ GIỚI ĐỊNH TUỆ CÙNG SONG HÀNH thì mới đạt quả vị NIẾT BÀN.
Tùy khí đắc thực nhưng phải hành trì BA LA MẬT.
Quang Đạt 03/06/2010 05:36:16
Tuỳ tiện ăn chay, bổ thành bệnh.

Ăn chay có nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe nhưng phải ăn đúng cách . Trong thực tế điều trị , các Bác sĩ đã ghi nhận nhiều tín đồ Phật giáo của thực phẩm chay trở thành nạn nhân vì đã ăn chay một cách vô tội vạ .
Có rất nhiều lý do để ăn chay. Người thì ăn chay vì theo Đạo, còn có người ăn chay vì bản thân không thích hoặc không thể ăn thịt động vật. Ngày nay, xu hướng ăn chay càng phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới với mục đích phòng và hỗ trợ trong việc chữa trị một số bệnh lý mãn tính liên quan đến ăn uống. Ngoài giới tu hành với nhiều kiểu ăn chay của mỗi đạo giáo, kiểu ăn chay sẽ thay đổi tuỳ mỗi người. Nguyên tắc chung của ăn chay thường là ăn thức ăn bao gồm : ngũ cốc, rau, khoai, củ, đậu, trái cây, các loại hạt và dầu, có hoặc không có sữa và trứng.

Ẩn họa từ bữa ăn chay
Thực phẩm ăn chay thường có năng lượng thấp, vì vậy mà người ăn chay rất mau đói. Nếu không ăn đa dạng thực phẩm thì rất dễ bị thiếu dinh dưỡng gây ra gầy ốm và suy giảm sức đề kháng, dễ bị bệnh nhiễm trùng. Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng như thiếu chất sắt tạo máu, thiếu kẽm, thiếu vitamin B12... với biểu hiện là thiếu máu có thể xảy ra do các chất này có nhiều trong các thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng, gan, huyết, hải sản... và dễ hấp thụ vào cơ thể.

Thức ăn có nguồn gốc thực vật cũng có chất sắt nhưng tỷ lệ thấp và cũng khó hấp thụ hơn. Nếu bữa ăn chay quá đơn điệu như chỉ ăn cơm với rau cải luộc chấm tương, chao hoặc cơm muối tiêu, bún nước tương thì nguy cơ thiếu chất rất cao. Việc ăn thiếu chất đạm cũng có thể gây ra chứng biếng ăn, nhão cơ, dễ nhiễm trùng, đặc biệt ở trẻ em, thanh thiếu niên, phụ nữ mang thai và cho con bú và bệnh nhân trong giai đoạn cần dinh dưỡng phục hồi bệnh là những đối tượng có nhu cầu dinh dưỡng cao. Ngược lại nếu bữa ăn chay quá nhiều bột đường và dầu béo thì năng lượng cao có thể dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì.

Ăn chay thế nào mới đúng cách?
Thành phần thức ăn chay thường nhiều chất xơ, ít cholesterol, giàu trái cây và vitamin các loại nên rất tốt cho sức khoẻ, giúp phòng ngừa và hỗ trợ rất nhiều cho người mắc các bệnh lý mãn tính liên quan đến ăn uống như béo phì, cao huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch, ung thư, sỏi mật, táo bón, sa sút trí tuệ, tai biến mạch máu não, loãng xương. Tuy nhiên để ăn chay cho đúng cách, khoa học không phải dễ. Muốn tránh những hậu quả ngoài mong muốn, người ăn chay nên lưu ý mấy điều sau:
- Ăn đủ ba bữa chính và hai đến ba bữa phụ để cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể. Ngoài ra nên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời khoảng 20 phút/ngày, lúc nắng sớm. Cơ thể sẽ tận dụng một nguồn vitamin D của thiên nhiên, giúp tăng hấp thu canxi, xương sẽ chắc khoẻ hơn.
- Các món ăn trong bữa chính phải đủ bốn nhóm chất bột đường, đạm (đậu hũ, tàu hũ, sữa đậu nành, đậu phộng, muối mè, nấm, đậu que, đậu đũa, đậu xanh...), dầu và rau, trái cây. Các bữa ăn cần đa dạng và thay đổi món thường xuyên. Sắt có nhiều trong các loại đậu khô và các loại rau có lá xanh thẫm. Tuy nhiên sắt trong thực vật không được cơ thể hấp thu nhiều như sắt trong động vật, vì vậy bữa ăn nên có rau trái để có nguồn vitamin C giúp hấp thụ chất sắt trong thức ăn. Để cung cấp canxi, có thể uống thêm sữa bò, nếu không dùng sữa có thể chọn các loại rau xanh thẫm, đậu nành, đậu hũ chế biến có canxi sulfat…
- Uống thuốc bổ sung sắt, vitamin: người ăn chay trường hoặc người có nhu cầu dinh dưỡng cao có thể uống thêm những loại thuốc bổ theo chỉ định của bác sĩ.

(Theo Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM/SGTT)
anhduy 23/05/2010 21:02:15
Mình cũng nghĩ như bạn Nhatlinh, ngay nay khoa học đã chứng minh rằng ăn chay giúp cho sức khỏe tốt hơn ăn mặn, ngoai ra việc ăn chay còn giúp cho môi trường và trái đất bị ô nhiễm vì theo nghiên cứu hiện nay cho thấy việc xả các chất thải, rác bẩn không làm ô nhiễm môi trường bằng việc chăn nuôi gia súc
Nhat linh 02/05/2010 21:58:40
Thua tat ca cac dao huu de gia Quyet van de an Chay hay man thuc chat rat don giang the gioi da chung minh da co nguoi an Chay khôe manh hon nguoi an man the thi tai sao ta phai an man neu noi them ve van de nay thi chung ta can phai co nhung kien thuc noi cho tac ca moi nguoi va moi nguoi khong con GI khuc mac con khong thi no se la van de cua chinh chung ta ly le tu bao chua cho chinh ban than minh vi tham an uong ma an thit ca y cua moi nguoi the nao
Quang Đạt 01/04/2010 05:09:41
GIỚI LUẬT VÀ VIỆC ĂN CHAY

Nếu nói Giới Luật là nền tảng đi đến giải thoát thì đúng một phần thôi bởi mọi người ai cũng biết thời Đức Phật cách đây hơn 2500 năm thì trong 13 năm đầu không có Giới Luật . Khi Tăng Đoàn ngày càng đông lên với nhiều vị Tỳ Kheo xuất thân từ Bà La Môn cải sang Đạo Phật vấp phạm lỗi thì Đức Phật mới chế Giới Luật . Giới Luật là hàng rào để các vị Tỳ Kheo không pham lỗi trong quá trình tu tập , có nghĩa là các điều Đức Phật cấm không cho làm .
Nên nhớ Giới Luật là ngọn mà Giáo Pháp của Đức Phật mới là gốc . Nếu ta chỉ giữ giới có nghĩa là không làm những điều mà Đức Phật cấm mà không thực hành Giáo Pháp , tức là những lời kim khẩu chân lý giải thoát của Ngài thì không có ý nghĩa gì cả . Ta thực hành Giáo Pháp của Ngài thì mới có công đức mà đi đến giải thoát an lạc . Do đó Giới Luật mà Đức Phật đề ra nhằm hổ trợ cho việc tu tập tránh sa ngã , rơi rụng của các chư Tăng trên đường tu .
Theo quan điểm của tôi thì Giới Luật chỉ là giai đoạn sơ khởi hướng đến Con Ðường Thanh Tịnh và là phương tiện đưa tới mục đích, chứ chính nó không phải là mục đích. Mặc dù giới là cần thiết, nhưng tự nó không đủ để giúp con người đạt được sự giải thoát. Mà cần phải có thêm Trí Tuệ (Panna). Nền tảng của Phật Giáo là giới, và trí tuệ mới là đỉnh cao nhất. Mà muốn có trí tuệ thì phải có công đức thực hành Giáo Pháp của Đức Phật , thực hành Lục độ Ba La Mật .

Muốn thọ trì các điều răn của giới luật, người Phật tử không những chỉ chú ý đến riêng mình, mà còn phải lưu tâm tới mọi kẻ khác - kể cả loài vật. Luật giới trong Phật Giáo, không đặt nền tảng trên các giáo điều thiên khải hồ nghi, nó cũng không phải là phát minh tài trí của một bộ óc đặc biệt, mà là những quy tắc hợp lý và thực tiễn được xây dựng trên những sự thật có thể chứng minh và kinh nghiệm cá nhân.

Tưởng nên biết rằng, bất cứ một quyền lực siêu nhiên ngoại giới nào cũng không thể dự phần vào trong việc tạo nên cá tính của một Phật tử. Trong Phật Giáo, không tin có người thưởng hay phạt. Sự khổ đau hay hạnh phúc là kết quả không thể tránh được của hành động riêng mình. Tâm trí người Phật tử không chấp nhận vấn đề Thượng Ðế phải chịu thay cho con người về sự hạnh phúc hay đau khổ của họ. Không phải do hành động mong được thưởng hay sợ bị trừng phạt đã thúc đẩy người Phật tử làm việc lành hoặc tránh điều ác. Người Phật tử biết rõ về những kết quả tương lai, nên họ tránh tạo điều ác, bởi vì nó gây chậm trễ cho sự giải thoát và làm việc lành vì nó trợ giúp trong việc tiến đến sự Giác Ngộ (Bodhi). Cũng có những người họ làm lành, vì biết đó là điều thiện, và tránh không làm ác vì thấy đó là điều xấu.

Ðể hiểu rõ nền luân lý cao siêu đặc biệt này, Đức Phật khuyên các đệ tử thuần thành của Ngài nên đọc cẩn thận các kinh sách như Pháp Cú (Dhammapada), Thiện sanh (Sigalovada), Mangala, Karaniya, Parabhava, Vasala, và Dhammikka v.v...

Ðó là những lời dạy Đạo lý nó vượt cao hơn các hệ thống đạo đức xã hội thông thường khác, nhưng Đức Phật chế định Giới Luật nhằm các vị Tỳ Kheo và giữ giới chỉ là bước đầu, chứ không phải là mục tiêu của Phật Giáo. Chính việc thực thi toàn bộ Gíao Pháp của Đức Phật , trong đó việc giải trừ các kiết sử để thành tựu Thánh Qủa nhằm đi đến giải thoát mới là mục tiêu của Đạo Phật .

Hiểu theo nghĩa này, Phật Giáo không phải là triết lý, nhưng theo nghĩa kia, Phật Giáo là triết lý của các triết lý. Theo một lối hiểu, Phật Giáo không phải là tôn giáo, theo cách hiểu khác, Phật Giáo là tôn giáo của các tôn giáo.

Phật Giáo không phải là cái đạo siêu hình, cũng không phải là cái đạo của nghi thức.

Phật Giáo không hoài nghi, cũng không võ đoán, mà thực tế .

Phật Giáo không dạy lối sống khổ hạnh, cũng không chủ trương đam mê dục lạc , hưởng thụ .

Phật Giáo không bi quan, cũng không lạc quan.

Phật Giáo không chủ trương cuộc sống vĩnh cửu, cũng không phải là thuyết hư vô.

Phật Giáo không bảo rằng thế giới này hay thế giới khác là tuyệt đối.

Phật Giáo là Con Ðường Giác Ngộ duy nhất.

Ngữ nguyên tiếng Pali gọi Phật Giáo là Dhammma (Giáo Pháp), có nghĩa là giữ gìn (duy trì). Không có một danh từ Anh văn nào có thể dịch đúng sát nghĩa của tiếng Pali này.

Giáo Pháp là cái gì đúng thật như vậy. Nó là Giáo Lý của Thực Tế. Giáo Pháp là phương tiện để Giải Thoát mọi khổ đau, và chính Dhamma (Giáo Pháp) là sự Giải Thoát. Dù Phật có ra đời hay không, Giáo Pháp vẫn tồn tại. Giáo Pháp bị che lấp trước cặp mắt vô minh của con người, cho đến khi một vị Phật, đấng Toàn Giác ra đời, chứng ngộ và từ bi truyền bá giáo pháp đó cho thế gian.

Giáo Pháp này không phải là cái gì ở ngoài, mà nó sát cánh gắn liền với chúng ta. Cho nên, Đức Phật dạy : “Hãy ẩn trú chính nơi con như một hải đảo, như chỗ Nương Tựa. Hãy ẩn náu nơi Giáo Pháp (Dhamma) như một hải đảo, như chỗ Nương Tựa. Ðừng tìm sự ẩn náu ở bên ngoài” (Kinh Đại Bát Niết Bàn).
Chúng ta thấy không phải giới luật ( chỉ hổ trợ , gìn giữ ) mà chính Giáo Pháp là con đường đi đến giải thoát cho nhân loại .

Thời Đức Phật thì Ngài dạy các đệ tử rằng : ăn uống không cần phải quá bận tâm là ngon dở , ngọt đắng mà ăn uống sao cho hợp lý nhằm giúp duy trì sức khỏe cho việc tu tập và không phát sinh bệnh tật .
Phật Giáo cho rằng việc ăn uống ẩm thực và sức khỏe con người có mối quan hệ vô cùng mật thiết với nhau . Có rất nhiều bệnh tật là do ăn uống quá độ , ăn uống phức tạp gây ra . Ăn uống thích hợp đủ chất , điều độ có tác dụng phòng chữa bệnh . Thực phẩm sau khi ăn sẽ phân giải thành phần dinh dưỡng và cơ thể sử dụng để thúc đẩy sinh trưởng .

Trong Đại Trí Độ Luận có nói : “ Thực vi hành Đạo , bất vi ích thân “ có nghĩa là ăn là để tu Đạo chứ không phải thụ hưởng cho bản thân . Cũng không phải là không có lý khi Đức Phật coi ăn uống là điều kiện tất yếu để tiến hành tu Đạo , chứ không coi trọng thức ăn ngon hay dở , mặn hay chay . Phật giáo chủ trương : Ăn không cần no , không được để quá đói , ăn uống đúng giờ .

Về việc ăn chay thì trong giới luật của Phật Giáo Nguyên Thủy Ấn Độ thì Đức Phật không có quy định là không ăn thịt . Thời kỳ đầu khi Phật Giáo mới truyền bá du hóa sang Trung Hoa không có việc cấm ăn thịt nhưng sau này các Tông Sư xưng là phái Đại Thừa cho rằng ăn thịt chính là sát sinh . Từ sau thời Nam Triều Lưu Tống , nhà Vua bắt đầu lưu hành phổ biến không được phép ăn thịt bất cứ động vật gì , nếu ăn thịt sẽ phải chịu tội xử phạt . Từ đó ăn chay là một đặc trưng của Phật giáo Trung Hoa truyền sang VN . Các Tăng Ni thì ăn chay trường , còn các Cư sĩ thì ăn chay một số ngày trong tháng . Hiện nay chỉ có 2 Quốc gia ăn chay là Trung Hoa và Việt Nam .
Thực phẩm ăn chay của Phật giáo đa số là các sản phẩm từ đậu và rau là chính , ngoài ra còn có gạo , nấm , măng , rau xanh và từ những sản phẩm này có thể tạo ra nhiều món ăn khác nhau có hương vị vô cùng độc đáo .
Ăn chay có ảnh hưởng đến sức khỏe con người như thế nào ? Nghiên cứu y học hiện đại cho thấy ăn chay nếu phù hợp với thể chất rất có lợi cho sức khỏe . Việc ăn mặn dễ sinh các bệnh mạn tính như : tim mạch , hệ thống tiêu hóa và ung thư . Trong thức ăn mặn chứa rất nhiều mỡ và cholesterol là nguyên nhân gây ra các bệnh về tim mạch .

Quan điểm đúng đắn trong việc ăn chay : Thật ra quan điểm ăn chay đúng đắn chính là chú ý đồng thời giữa thức ăn chay và thức ăn mặn . Do cuộc sống hiện đại vốn căng thẳng và mệt mõi , nếu chỉ ăn chay thôi sẽ không tránh khỏi thiếu dinh dưỡng . Hiện nay theo Hội Y học Hoa Kỳ cho biết những người ăn chay chỉ hấp thụ được một lượng protein và vitamin B rất ích . Vì vậy họ luôn bị thiếu dinh dưỡng , nguy cơ ở tuổi trẻ thiếu niên , nhi đồng càng lớn , dễ mắc bệnh thiếu máu , thiếu protein , bệnh thận …phụ nữ thì dễ bị bế kinh . Trên thực tế , thức ăn mặn chứa rất nhiều thành phần dinh dưỡng giúp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể . Nếu không ăn thức ăn mặn trong một thời gian dài lượng cholesterol trong máu quá thấp , dễ gây bệnh thiếu máu . Đặc biệt là thanh thiếu niên trong giai đoạn phát triển rất cần hấp thụ đầy đủ chất dinh dưỡng thì không nên chỉ ăn thức ăn chay sẽ suy dinh dưỡng , cần phải phối hợp hợp lý giữa thức ăn chay và thức ăn mặn để đảm bảo sự cần thiết cho sự phát triển cơ thể khỏe mạnh . Chúng ta cần có cái nhìn đúng đắn về tập tục ăn chay của Phật giáo , không bắt chước một cách máy móc mà gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe .

Phật giáo Trung Hoa đề cao ăn chay nên đương nhiên loại bỏ việc uống sữa và các chế phẩm từ sữa . Thực ra sữa chứa rất nhiều chất dinh dưỡng và sữa bò đã cứu sống Đức Phật Thích Ca Mâu Ni . Theo kinh điển nhà Phật thì Thích Ca Mâu Ni khi xuất gia đã ở núi Tuyết Sơn tu hành 6 năm tĩnh tọa tư duy ngoài trời , tuân thủ những quy định ngặt nghèo để tịnh Tâm , một ngày chỉ ăn một hạt vừng hay một hạt gạo , vì vậy thân hình Ngài trở nên gầy gò chỉ còn da bọc xương . Đức Phật Thích Ca mới suy nghiệm rằng nếu cứ tiếp tục tu tập vất vả thế này sẽ không đạt kết quả , không đạt mục đích cứu khổ chúng sinh giữa bể khổ trầm luân thế gian này . Thế là Đức Phật bỏ lối tu ép xác khổ hạnh này nên Ngài bỏ đi đến sông Ni Liên Thiền để tắm . Do cơ thể Ngài gầy gò yếu đuối nên khi tắm xong không lên được bờ , lúc đó có một vị Chư Thiên đưa cành cây xuống kéo Ngài lên bờ . Rồi Đức Phật được một cô gái chăn bò cho ăn cháo sữa ( loại cháo được nấu từ sữa bò và bột gạo ) , khi Ngài ăn xong bát cháo thì sức khỏe hồi phục , tinh thần sảng khoái và Đức Phật bắt đầu tu hành theo tư duy hiểu biết của mình là Trung Đạo hợp lý chừng mực , từ bỏ con đường khổ hạnh . Đức Phật tiến vào rừng , trãi cỏ cát tường ở dưới gốc cây Bồ Đề và nhập Đại Định .

Phật giáo Ấn Độ đã coi sữa bò là thực phẩm nhiều dinh dưỡng , là loại thuốc chữa bệnh rất tốt từ rất lâu rồi . Thực tế sữa bò là thực phẩm dinh dưỡng được sử dụng rất rộng rãi , do chứa nhiều protein , có tác dụng quan trọng đến sự hình thành và phát triển của não và thần kinh . Sữa bò còn chứa nhiều chất khoáng , canxi , sắt , phốt pho v.v… cho cơ thể . Sữa bò có thể trung hòa a xít trong dịch vị , đặc biệt có tác dụng chữa bệnh dạ dầy , bệnh về mạch máu não , thể trạng suy nhược , lợi phế khí , giải chất độc , thông mật , lợi tiểu , táo bón , mất ngủ , bệnh ở đoạn đầu ruột non.
Namo Sakya Muni Buddha .
Quang Đạt 31/03/2010 07:32:31
Ăn chay - Ăn mặn trong ẩm thực Phật giáo

Suy cho cùng, con người chỉ vì miếng ăn mà đã gây ra biết bao tội lỗi, nhưng đó là phạm vi chung của nhân loại. Riêng trong đạo Phật, cũng việc ăn uống, có một vấn đề thường gây thắc mắc, tranh luận đúng sai, nên hay không nên, cho khá nhiều người. Ðó là: Ăn mặn và Ăn chay.

Khi đức Như Lai còn tại thế, người anh họ của Ngài tên là Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) có ý định chiếm quyền lãnh đạo Tăng đoàn. Ðể có được hậu thuẫn chắc chắn và niềm tin nơi các vị khác, Devadatta cố gắng tỏ ra nghiêm khắc hơn cả bậc Đạo Sư và muốn chứng minh rằng đức Phật có phần dễ duôi.
Lần nọ, Devadatta đề nghị với đức Phật năm điều buộc Tăng chúng tuân thủ, một trong năm điều đó là buộc chư Tăng ăn chay trường. Như Lai chối từ lời đề nghị này. Lại một lần nữa, Ngài nhắc lại giới luật mà Ngài đã thiết lập nhiều năm về trước, qui định tất cả các Tăng Ni có thể ăn thịt hay cá, khi không nghe, không thấy và không nghi con vật đó bị giết vì bữa ăn của mình. Loại thịt này thường được gọi là Tam tịnh nhục.

Chúng ta nên biết, Phật giáo không đơn thuần là một tôn giáo mà còn là một nền khoa học của mọi nền khoa học. Tuy nhiên, đứng trên bình diện là một tôn giáo thì Phật giáo là một tôn giáo tự do, theo con đuờng Trung đạo. Giáo lý đức Phật đã dạy mang lại lợi ích thiết thực cho cả giới tại gia lẫn xuất gia.
Một số quốc gia theo truyền thống Bắc truyền, tu sĩ Phật giáo hầu hết ăn chay trường, và Phật tử tại gia thường ăn chay theo định kỳ mỗi tháng. Sự tuân hành này dưới danh nghĩa tôn giáo đáng tán dương, ca ngợi. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không nên lên án, đả kích những người không ăn chay.
Phải hiểu ngọn nguồn rằng giới luật trong giáo Lý nguyên thủy của đức Phật không buộc tất cả người Phật tử phải ăn chay, Ngài khuyên là để cá nhân các đệ tử tự mình quyết định việc ăn chay. Rõ ràng đức Phật không coi việc ăn chay hay ăn mặn là một luật lệ đạo lý quan trọng. Đức Phật cũng không đả động gì về vấn đề ăn chay của các cư sĩ Phật giáo trong giáo lý của Ngài.

Có rất nhiều ý kiến khác nhau giữa các Phật tử về vấn đề này. Cho nên ở đây chỉ xin trình bày những luận chứng của những người tin rằng “ăn chay” là cần thiết cho các Phật tử và của những người không tin điều đó.

Ngược dòng hơn 25 thế kỷ trước, ngay từ lúc đạo Phật được thành lập, chư Tăng, những đệ tử Phật sống theo hạnh trì bình khất thực, không được phép trồng tỉa lấy lương thực, không được tích lũy thực phẩm, cũng như không được tự nấu nướng thức ăn. Thay vào đó, mỗi buổi sáng họ dùng bữa của mình bằng cách sử dụng bất kỳ thứ gì các Phật tử đã tự nguyện dâng cúng cho họ.
Cho dù thức ăn có giàu năng lượng hay kém phẩm chất, khoái khẩu hay khó ăn, tất cả đều được họ chấp nhận với lòng tri ân và được xem như là dược phẩm để duy trì sự sống. Ðức Phật đã đặt ra nhiều giới luật ngăn cấm chư Tăng không được đòi hỏi thức ăn mà họ ưa thích, như thế chư Tăng chỉ nhận các loại thực phẩm giống hệt như thức ăn người dân thường hay sử dụng, và thông thường thì các thực phẩm đó có chứa thịt cá, và chính đức Phật cũng không phải là người ăn chay.
Ðức Phật sử dụng thực phẩm hàng ngày do Ngài đi khất thực hay do những người ủng hộ mời Ngài đến nhà dùng bữa, và trong cả hai trường hợp, Ngài đã ăn những gì được dâng cúng cho Ngài. Trước khi giác ngộ, đức Phật đã thử dùng nhiều loại thức ăn khác nhau, kể cả loại thức ăn không có thịt. Nhưng cuối cùng Ngài đã bỏ không dùng các loại thức ăn đó vì Ngài tin rằng chúng chẳng giúp gì cho việc phát triển tâm linh.

Ngày nay, người ta thường cho rằng những người theo Bắc tông thì “ăn chay trường” còn những người theo Nam tông thì không. Tuy nhiên, trên thực tế lại có phần phức tạp hơn. Thường thì các Phật tử Nam tông không có bất kỳ giới hạn nào trong chế độ ăn uống, họ không phân biệt ăn chay hay ăn mặn gì cả.
Những nguời ăn chay chỉ dựa trên lý luận đơn giản, đầy thuyết phục là để hỗ trợ cho lý tưởng tu hành của họ. Vì theo họ, ăn thịt khuyến khích một nền công nghiệp tạo ra những hành động tàn ác, gây ra cái chết cho hàng triệu súc vật. Một người có lòng từ bi nhân hậu muốn làm dịu đi tất cả những đau khổ đó, họ nghĩ rằng ăn chay có thể tăng trưởng được lòng từ. Bằng cách từ chối ăn thịt, họ sẽ làm được điều đó.

Những người tin rằng việc ăn chay là không cần thiết đối với Phật tử cũng có các lý luận không kém phần thuyết phục, mặc dù phức tạp hơn, để hỗ trợ cho quan điểm của họ, họ lý luận rằng:

(1) Nếu như đức Phật cảm thấy các thức ăn không thịt là hợp với các giới luật thì ắt hẳn Ngài đã tuyên bố và ít ra cũng đã được ghi chép trong Tam tạng Pāli, nhưng đàng này lại không thấy Ngài đề cập đến.

(2) Trừ phi chính chúng ta thực sự giết con vật để lấy thịt sử dụng, nếu không thì chúng ta không có trách nhiệm trực tiếp về cái chết của con vật đó; và hiểu như vậy thì người ăn chay và không ăn chay cũng không khác biệt gì cả. Những người ăn chay chỉ có thể ăn rau quả vì có người nông dân cày cấy ruộng, như vậy họ cũng đã sát hại biết bao nhiêu sinh vật và phun thuốc trừ sâu họ cũng giết hại nhiều sinh vật vậy.

(3) Cho dù những người ăn chay không ăn thịt, họ cũng phải dùng rất nhiều sản phẩm khác dẫn đến việc sát hại thú vật như xà-phòng, đồ da thuộc, huyết thanh, tơ tằm, v.v… Tại sao chúng ta kiêng không dùng một thứ sản phẩm này, song lại sử dụng các thứ khác?

(4) Các đức tính tốt như cảm thông, nhẫn nại, quảng đại, trung thực, và các tính xấu như ngu dốt, kiêu hãnh, đạo đức giả, ganh tị và lãnh đạm, thờ ơ không tùy thuộc vào những gì chúng ta ăn vào miệng, và như vậy thì thức ăn không phải là nhân tố quan trọng để phát triển tâm linh.

Một số người sẽ chấp nhận quan điểm này, nhưng số người khác thì lại chấp nhận quan điểm kia. Như vậy, gây ra nhiều tranh luận trong vấn đề ẩm thực Phật giáo. Chúng ta hãy quay lại với giáo lý của đức Phật để hiểu rõ thêm vấn đề này.

Ðức Phật rất thực tế, giáo lý của Ngài cũng rất thực tiễn. Khi Ngài đề ra những học giới, Ngài chỉ đề ra những giới luật nào mọi người có thể tuân theo, có thể gìn giữ được. Thí dụ như, Ngài đã không đưa ra một giới luật tu tập cấm bạn không được ăn uống quá độ. Các nhà sư phải sống nhờ khất thực và Ngài đã đề ra rất nhiều giới luật có liên quan đến ăn uống cho các vị chư Tăng - họ chỉ được phép ăn vào giờ ngọ, khi ăn họ không được gây tiếng động với thức ăn nhai trong miệng hay húp xì xụp, họ không được làm rơi vãi cơm, họ không được vét bát, không được nhìn ngó xung quanh, v.v… cũng như Ngài không đưa ra giới luật cấm không được ăn thịt, không chủ trương chư Tăng phải ăn chay, nhưng Ngài vẫn khuyên các thầy không nên ăn mười loại thịt vì sự tôn trọng và bảo vệ cho chính các thầy. Đó là: thịt người, vì những lý do đã quá rõ ràng; thịt voi và thịt ngựa vì trong thời kỳ đó, hai con vật này được coi là thú vật của nhà vua; thịt chó - vì dân chúng thường coi chó là con vật ghê tởm; thịt rắn, sư tử, cọp, báo, gấu và linh cẩu - vì người ta tin rằng ai ăn thịt những loài thú rừng nguy hiểm này sẽ toát ra một mùi đặc biệt có thể khiến cho các con vật đồng loại tấn công người đó để trả thù.

Để xác định rõ thái độ về việc ăn thịt cho chư Tăng, đức Phật dạy:

“Này chư Tỳ-kheo, Ta cho phép các vị dùng thịt cá trong ba truờng hợp sau đây: thịt này phải chưa được các vị nhìn thấy, các vị chưa được nghe biết, hoặc giả chư vị không có gì phải nghi ngờ là con vật đó đã được sát sanh chỉ nhằm mục đích thiết đãi cho chư vị. Nhưng các vị không được cố tình sử dụng thứ thịt đã được giết chỉ dành cho các vị sử dụng mà thôi.” Chúng ta có thể nhận ra lý do tại sao đức Phật lại không chủ trương bó buộc các Phật tử phải ăn chay, vì đó không phải là mục đích cứu cánh của sự giải thoát. Mối bận tâm chính của Ngài tìm ra chân lý tối hậu giải thoát những khổ đau cho nhân loại, nhưng ngay cả mục đích chính đó cũng là tự nguyện, tùy ở mỗi cá nhân có nên tuân thủ theo hay không, qua lời dạy của Ngài, mà trở nên từ bi hơn, khôn ngoan hơn, nhận lấy trách nhiệm cho cuộc sống của chính mình. Ngài chỉ vạch ra con đường còn đi hay không là quyền của mỗi cá nhân. Ðường hướng của đức Phật, mục đính chính của giáo lý của Ngài, là khuyến khích để mọi người hiểu biết hơn, từ bi hơn, giúp mỗi cá nhân có thể thực hiện được những sự lựa chọn thích hợp không chỉ trong việc ăn chay, nhưng còn trong nhiều việc khác nữa.

Như vậy, ăn chay hay ăn mặn tự nó không làm cho một người trở thành bất tịnh, sự thanh lọc được nội tâm của mình không phải dựa trên sự ăn chay hay mặn mà người tự làm mình không trong sạch bởi niềm tin mù quáng, gian dối, thèm muốn, tự đề cao, ô danh và những dụng ý tội lỗi. Do những tư tưởng và hành động xấu xa của mình tự làm mình bất tịnh. Không có một giới luật khắt khe nào trong Phật giáo nói là tín đồ của đức Phật không nên ăn cá thịt. Đức Phật chỉ khuyên là không nên liên quan vào việc sát hại có dụng ý hoặc không nên yêu cầu người khác giết bất cứ chúng sanh nào cho mình.

Tuy nhiên những ai ăn chay và không ăn thịt của thú vật đáng được ca ngợi. Ăn chay là một sự lựa chọn rất cao thượng, nhưng sự lựa chọn đó phải phát xuất từ một vị thế đúng, phát xuất từ lòng bi mẫn và sự hiểu biết. Sau khi có một sự lựa chọn như vậy, xin đừng làm ô uế nó qua lòng ác cảm đối với những người không ăn chay. Bởi vì nếu như thế, sự tốt lành phát sinh từ việc lựa chọn đó sẽ trở nên băng hoại, sẽ bị ô nhiễm và cách này hay cách khác bạn sẽ trở nên tệ hơn những người không ăn chay. Chúng ta thực hiện sự lựa chọn này xuất phát từ lòng từ bi, không nên chỉ trích người vì họ không ăn chay.

Hơn thế nữa, chúng ta kính trọng những người ăn chay. Họ có hành động rất cao thượng; đó là một cử chỉ xuất ly. Ăn chay chỉ là chuyện nhỏ nhưng cao thượng, và rất hòa hợp với những lời dạy của đức Phật về lòng bi mẫn và sự hiểu biết. Nhưng chúng ta không được dừng lại ở đó. Ngay cả khi người không ăn chay, cũng xin đừng nghĩ là không còn gì để thực hiện được nữa. Có rất nhiều điều để thực hiện trong cuộc sống này, chúng ta hãy thực hiện bằng cách nói năng, trong hành động, trong mọi sự việc. Xin hãy là người hành động thận trọng, đối xử với nhau bằng tình thương, xin hãy là người không tạo thêm đau khổ cho nhân loại và cho mọi sinh linh trên hành tinh này. Một khi chúng ta có ý định nỗ lực đi theo chiều hướng đúng đắn đó, chúng ta là những đệ tử tốt của đức Phật. Mỗi người chúng ta phải bước đi với nhịp chân của chính mình.

Tóm lại, vấn đề ăn uống trong Phật giáo không phải là chuyện quan trọng hàng đầu, dù ăn mặn hay ăn chay. Mục đích tối hậu phải làm thăng hoa trong đời sống tâm linh của mỗi hành giả. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã có một khái niệm khá rõ ràng về vấn đề này, có thể áp dụng vào trong đời sống thực tế hằng ngày. Cổ nhân có dạy: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Nghĩa là: con người sanh ra trên trái đất này ngoài chuyện ăn uống để giữ mạng sống, bồi dưỡng sức khỏe, chúng ta còn nhiều chuyện khác để làm, đem lại ích lợi cho người, cho đời, và chính bản thân. Chuyện ăn uống thuộc về phạm vi thể chất, bồi bổ cho tấm thân tứ đại giả tạm này, để làm phương tiện cho việc tinh tấn tu tâm dưỡng tánh, cho đến ngày giác ngộ và giải thoát.

Con người muốn sống một cuộc sống an nhàn tự tại, không nên chú tâm, không nên lệ thuộc quá nhiều về sự ăn uống. Một người chỉ biết ăn chay, tụng niệm suốt đời, không tìm biết mục đích cứu cánh của đạo Phật, chưa thật xứng đáng là người thực hành giáo lý giải thoát của đức Phật. Việc học hiểu, tu tập để phát triển tuệ giác, và thực hành Chánh pháp, ngay trên cuộc đời, tại thế gian này, cho đến khi được viên mãn, chính chuyện tu tâm dưỡng tánh mới đáng làm chúng ta bận tâm hằng ngày; mới thực sự là việc quan trọng của người Phật tử tại gia và xuất gia; mới là mục đích cứu cánh của đạo Phật. Ăn uống chỉ là một phương tiện, trong bao nhiêu phương tiện khác, mà thôi.

Chúng ta cần nên hiểu biết một thực tế khác về vấn đề ăn mặn và ăn chay. Ðó là các thứ nông phẩm dùng để ăn hằng ngày của chúng ta như cơm gạo, rau cải, hoa quả, trái cây… tất cả đều không phải tự nhiên có được. Tất cả đều thu hoạch được từ mồ hôi, nước mắt của người nông phu, phải trải qua quá trình trồng trọt, tưới tẩm, bón phân và trừ khử các loại sâu rầy phá hoại mùa màng. Khi dùng các nông phẩm đó, chúng ta đã không tránh được sát giới, một cách hoàn toàn, dù không trực tiếp, cũng là gián tiếp, cũng chịu cộng nghiệp với các những người nông phu. Cho nên, người Phật tử tại gia hay xuất gia, mỗi khi thọ thực, cần phát tâm từ bi, thương xót những người đã tạo ra những thức ăn cho chính mình, và cũng nên hướng về những người đang trong cảnh cơ hàn không có miếng cơm manh áo, những người chưa thể ăn chay được, với bất cứ lý do gì, hoặc là các nông gia phải phạm sát giới, để làm nên các nông phẩm chúng ta đang dùng. Bằng mọi cách trước khi ăn, chúng ta hãy hướng tâm đến những người nông phu để hồi hướng phước báu cho họ, hay công đức trì giới của mình, đến tất cả chúng sinh, trong khắp pháp giới. Hoặc chúng ta chắp tay cầu nguyện cho tất cả chúng sinh, ít ra cũng đều có những bữa cơm đạm bạc, có cuộc sống thanh bình, cầu chúc cho mọi sinh linh trên hành tinh luôn được thái bình hạnh phúc.

Namo Sakya Muni Buddha
Quang Đạt 31/03/2010 07:26:20
Thân chào các Đạo hữu ,

Đây là lời dạy của Đức Phật về việc ăn chay - ăn mặn :

Trong kinh Amagandha, Đức Phật nói:
"Chẳng phải thịt, chẳng phải nhịn ăn, chẳng phải lõa thể,
Chẳng phải cạo đầu, chẳng phải bện tóc, chẳng phải trát đất,
Chẳng phải da xù xì, chẳng phải thờ thần lửa
Chẳng phải tự hành xác nơi đây trong thế giới này
Chẳng phải thánh ca, chẳng phải hiến cúng, chẳng phải tế thần
Chẳng phải hội mừng mùa màng
Có thể làm một kẻ tâm đầy hoài nghi trở thành trong sạch."
Ăn cá hay ăn thịt tự nó không làm cho một người trở thành bất tịnh. Một người tự làm mình không trong sạch bởi niềm tin mù quáng, gian dối, thèm muốn, tự đề cao, ô danh và những dụng ý tội lỗi. Do những tư tưởng và hành động xấu xa của mình tự làm mình bất tịnh. Không có một giới luật khắt khe nào trong Phật Giáo nói là tín đồ của Đức Phật không nên ăn cá thịt. Đức Phật chỉ khuyên là không nên liên quan vào việc giết chóc có dụng ý hoặc không nên yêu cầu người khác giết bất cứ chúng sanh nào cho mình. Tuy nhiên những ai ăn chay và không ăn thịt của thú vật đáng được ca ngợi.
Mặc dù không chủ trương các thầy tu phải ăn chay, Đức Phật vẫn khuyên các thầy không nên ăn mười loại thịt vì sự tôn trọng và bảo vệ cho chính các thầy. Mười loại thịt ấy là: người, voi, ngựa, chó, rắn, sư tử, hổ, báo, gấu, linh cẩu. Một số các thú vật tấn công người khi chúng ngửi mùi thịt sống cùng loại với chúng. (Vinaya Pitaka - Tạng Luật)
Một đệ tử của Ngài là Đề Bà Đạt Đa yêu cầu Đức Phật bắt các đệ tử của Ngài ăn chay, nhưng Ngài từ chối. Vì Đạo Phật là một tôn giáo tự do, nên Ngài khuyên là để cá nhân các đệ tử tự mình quyết định việc ăn chay. Rõ ràng Đức Phật không coi việc ấy là một luật lệ đạo lý quan trọng. Đức Phật cũng không đả động gì về vấn đề ăn chay của các cư sĩ Phật Giáo trong giáo lý của Ngài.
Jivaka Komarabhacca, một vị lương y, bàn thảo về vấn đề tranh luận này với Đức Phật:
- "Bạch Đức Thế Tôn, con có nghe thấy rằng thú vật bị giết để dành cho Ẩn Sĩ Cồ Đàm, và Ẩn Sĩ Cồ Đàm cố ý ăn thịt thú vật bị giết để dành cho Ngài. Thưa Thế Tôn, có phải người ta nói thú vật bị giết là để cho Ẩn Sĩ Cồ Đàm, và Ẩn Sĩ Cồ Đàm cố ý ăn thịt thú vật bị giết vì mục đích để dâng cho Ngài Cồ Đàm. Họ buộc tội sai cho Đức Phật phải không? Hay đó là họ nói sự thật? Những lời tuyên bố và những lời giải thích thêm của Ngài phải chăng là đề tài bị người khác báng nhạo bằng một thái độ nào đó?"
- "Này Jivaka, những ai nói: 'Thú vật bị giết là để cho Ẩn Sĩ Cồ Đàm, và Ẩn Sĩ Cồ Đàm cố ý ăn thịt thú vật bị giết để dâng cho mình', không nói đúng điều ta nói, họ đã buộc tội ta không đúng. Này Jivaka, ta đã nói là không nên ăn thịt, nếu nhìn thấy, nghe thấy hay nghi ngờ thịt đó do thú vật bị giết để dâng cho các thầy tỳ kheo. Ta cho phép các thầy tỳ kheo dùng thịt trong ba điều kiện: Nếu không nhìn thấy, không nghe và không nghi ngờ thịt do thú vật bị giết để cung cấp cho các thầy tỳ kheo" (Kinh Jivaka).
Trong một số quốc gia, một số các Phật tử trường phái Đại Thừa chỉ ăn chay. Sự tuân hành này dưới danh nghĩa tôn giáo đáng tán dương nhưng chúng ta phải nhấn mạnh là họ cũng không nên buộc tội những người không ăn chay. Họ phải hiểu rằng không có giới luật trong Giáo Lý nguyên thủy của Đức Phật bắt tất cả người Phật tử phải ăn chay. Chúng ta phải nhận thức Phật Giáo là con đuờng Trung Đạo. Phật Giáo là một tôn giáo tự do, và lời khuyên của Đức Phật là không cần thiết đi đến cực đoan để thực hành lời Ngài dạy.
Ăn chay không thôi không thể giúp cho một người trau dồi nhân phẩm. Có những người mộ đạo thuần thành khả ái, nhũn nhặn và lễ phép giữa những người không ăn chay. Cho nên ta không nên bỏ qua quan điểm là một người trong sạch, mộ đạo là phải ăn chay.
Mặt khác, nếu bất cứ ai nghĩ rằng con người nếu không ăn thịt cá thì không thể sống khỏe mạnh, không cần thiết phải theo điều đó vì không đúng: hàng triệu người ăn chay trên khắp thế giới mạnh hơn và có sức khỏe hơn những người ăn thịt.
Những ai chỉ phê bình Phật Tử ăn thịt là không hiểu thái độ của đạo Phật về thực phẩm. Mỗi chúng sanh cần có thực phẩm. Chúng ta ăn để sống. Như vậy con người cần phải cung cấp cho thân xác thực phẩm cần thiết để giữ cho được khỏe mạnh và có đủ năng lực làm việc. Tuy nhiên, do kết quả của sự gia tăng của cải, càng ngày càng nhiều người, nhất là trong các quốc gia phát triển, đơn giản ăn để thỏa mãn khẩu vị của họ. Nếu ta tham đắm vào bất cứ loại thực phẩm nào, hay giết thú vật để thỏa mãn thói tham ăn thịt của mình thì điều đó là sai quấy. Nhưng nếu một người ăn thịt chẳng phải vì tham lam, và không trực tiếp liên can vào hành động giết mà chỉ là để trợ sức cho xác thân vật chất, người đó thực hành hạnh tự chế.

Ngay từ lúc đạo Phật được thành lập hơn 2500 năm về trước, các Tăng Ni vẫn sống nhờ vào việc khất thực. Trước kia và hiện giờ cũng vậy, họ không được phép trồng tỉa lấy lương thực, không được tích lũy thực phẩm, cũng như không được tự nấu nướng thức ăn. Thay vào đó, mỗi buổi sáng họ dùng bữa của mình bằng cách sử dụng bất kỳ thứ gì các Phật Tử đã tự nguyện dâng cúng cho họ. Cho dù thức ăn có giàu năng lượng hay kém phẩm chất, khoái khẩu hay khó ăn, tất cả đều được họ chấp nhận với lòng tri ân và được xem như là thực phẩm để duy trì sự sống. Ðức Phật đã đặt ra nhiều giới luật ngăn cấm chư Tăng không được đòi hỏi thức ăn mà họ ưa thích. Kết quả là chư Tăng chỉ nhận các loại thực phẩm giống hệt như thức ăn người dân thường hay sử dụng và thông thường thì các thực phẩm đó có chứa thịt cá.
Thế rồi, để xác định rõ thái độ về việc ăn thịt cho chư Tăng, Ðức Phật dạy:
"Này chư Tỳ-kheo, Ta cho phép các vị dùng thịt cá trong ba truờng hợp sau đây: thịt này phải chưa được các vị nhìn thấy, các vị chưa được nghe biết, hoặc giả chư vị không có gì phải nghi ngờ là con vật đó đã được sát sanh chỉ nhằm mục đích thiết đãi cho chư vị. Nhưng các vị không được cố tình sử dụng thứ thịt đã được giết chỉ dành cho các vị sử dụng mà thôi."
Có nhiều đoạn trong Kinh điển Phật giáo cho thấy Ðức Phật và các vị chư Tăng của ngài được cúng dường thịt và các ngài cũng nhận để ăn.
Tuy nhiên cũng có một số thịt đặc biệt cấm các vị chư tăng không được sử dụng. Đó là: thịt người, vì những lý do đã quá rõ ràng; thịt voi và thịt ngựa vì trong thời kỳ đó, hai con vật này được coi là thú vật của nhà vua; thịt chó - vì dân chúng thường coi chó là con vật ghê tởm; thịt rắn, sư tử, cọp, báo, gấu và linh cẩu - vì người ta tin rằng ai ăn thịt những loài thú rừng nguy hiểm này sẽ toát ra một mùi đặc biệt có thể khiến cho các con vật đồng loại tấn công người đó để trả thù.
Vào cuối cuộc đời Ðức Phật, người anh họ của ngài tên là Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) có ý định chiếm quyền lãnh đạo Tăng đoàn. Ðể có được hậu thuẫn của các vị khác, Devadatta đã cố gắng tỏ ra nghiêm khắc hơn cả Đức Phật và muốn chứng minh rằng Đức Phật có phần dễ duôi. Devadatta đề nghị với Ðức Phật là tất cả các vị Tăng Ni đều phải "ăn rau đậu" ("ăn chay trường"). Ðức Phật đã từ chối và một lần nữa Ngài nhắc lại một giới luật mà Ngài đã thiết lập nhiều năm về trước, qui định tất cả các Tăng Ni có thể ăn thịt hay cá, khi nào biết rõ thịt con vật đó không bị cấm sử dụng và khi họ không có lý do gì để nghi ngờ rằng con vật đó được giết đặc biệt dùng để chiêu đãi họ (Tam tịnh nhục).
Hồi đó, Luật đã đề cập rõ ràng đến vấn đề này. Các vị Tăng Ni có thể ăn thịt. Ngay cả Ðức Phật cũng đã dùng thịt. Các vị tăng ni không được lựa chọn gì cả khi đến bữa ăn và điều này còn khó khăn hơn là "ăn chay trường". Tuy nhiên, chúng ta có thể khuyến khích việc ăn rau đậu, và nếu như những vị cư sĩ hộ tăng đem đến cúng dường chư Tăng toàn là thực phẩm rau đậu và không có thịt, thì trong trường hợp đó, các vị sư cũng không phàn nàn. Mong rằng quí vị hiểu cho điều nầy, và hãy đối xử tốt với các loài thú vật.
Namo Sakya Muni Buddha
MINH NHAT 27/02/2010 16:08:57
Xin cám ơn quí vị đạo hữu,đã bàn luận rất sôi nổi ,và vỡ lẽ nhiều thứ trong vấn đề ăn chay.tôi thích nhất phản hồi của đạo hữu TDN.Tôi có cảm giác đạo hữu TDN NIỆM PHẬT rất miên mật.Đáng tiếc đạo hữu không viết tên đầy đủ.Theo tôi ăn chay rất cần thiết để nhập TAM MA ĐỀ.
Tôi trước vốn là người rất ưa rượi thịt,nhưng nay đã ăn chay trường được 5 năm.Khi quí vị tu thiền đến một mức nào đó, thì thấy tác động của mùi tanh và vị ngon sẽ gây vọng tưởng mạnh.Không thể nói tôi sẽ độ chúng sanh khỏi khổ,mà lại đưa chúng sanh lên đĩa ,thái thành miếng,gắp lần lượt từng miếng một.Tôi cũng đã đọc KINH PHẬT,trong đó PHẬT dạy các thứ thịt hồi PHẬT còn tại thế là do NGÀI biến hóa ra.PHẬT còn dạy các vị bồ tát không được ăn thịt,không được bẻ cành cây tươi,và khi đi cần phải cách mặt đất 200mm để khỏi dẫm vào cỏ.
TRIEN TRI 26/02/2010 12:57:34
Ban Lan Phuong kinh men !
Nhung lap luan cua ban xau sac, thuc te nhung trong su sau sac thuc te nhu suy nghi cua ban la hoan toan thieu thuc te va sau sac. That vi ky khi an thit chung sanh, ma tam thanh tinh. Dung tam thanh tinh ma an thit chung sanh nhu cac ban nghi thi thuc te cac sinh vat ma ban dang an da trai qua su so hai va dau don tot cung. Xin cac ban hay hanh tri Phat Phap tham sau hon nua de co chanh kien va tu duy, cuoi cung an uong trong su thanh tinh hoan toan la tam nguoi an va thuc pham duoc an.
Thủy Sinh 02/02/2010 02:07:33
Ăn sao cũng thì ăn, chay hay mặn không quan trọng, quan trọng là "Tâm phải sáng!"
Không nên ngụy biện,rằng tôi không trực tiếp sát sinh là không có lỗi.Vì quy luật cung cầu là rất rõ, nếu anh không mua tôi cũng không bán.ví dụ: tuần rằm mồng một người bán hàng mới giết thịt tăng số lượng,lý do của việc tăng số lượng là nhu cầu của chúng ta, vậy là chúng ta đã gián tiếp sát sinh.
Tóm lại nếu có thể ăn mặn được thì cũng có thể sát sinh được không nên mượn dao người khác... rồi mình lại làm như vô can. Vậy khác nào "logic gẫy", hay "Bịt tai trộm chuông" dối mình dối người.
Huyền Trang 06/01/2010 22:25:55
Mình thấy bài viết của Lan Phương cũng thật hay, theo mình thấy nếu như cứ khăn khăn phải cho là ăn chay mới được hoặc cho là ăn mặn mới chịu thì mình đã bị chấp vào cái ăn và đã bị dính mắc vào cái ăn rồi, miễn sao mình cố giữ tâm trong sạch giữ giới không sát sanh, hoặc không sai người khác giết cho mình ăn là tốt rồi, "không có mợ chợ vẫn đông" không thể nào bắt toàn bộ người trên đất nước này hay trên thế giới ăn chay được cả, nên mình ăn mặn không có nghĩa là góp phần cho con vật đó chết, chỉ là có thì ăn thôi mà. Với lại ăn chay hay mặn thì tùy theo sở thích của mỗi người thôi, có 1 số người không thích nghe mùi tanh của cá thịt thì ăn chay chứ chưa hẳn ăn chay là người đó có tâm từ bi.
lan phuong 23/10/2009 21:52:44
Hơn một tháng nay lan phuong không vào đọc trang này nên không biết có phản hồi của CPT và đạo hữu nguyen tam đã ủng hộ lan phuong để có lời cảm ơn.

lan phuong tu tập tuệ quán, với phương pháp tu tập này, hành giả luôn theo lời của Đức Phật dạy là hãy để cho các pháp diễn ra một cách tự nhiên và quan sát chúng để thấy chúng " y như chúng thực là" dưới ánh sáng của chân lý cao thượng Tứ Diệu Đế.

Dưới ánh sáng của chân lý này, khi hành giả quán sát sự vật , hành giả sẽ thấy bản chất vạn pháp không gì ngoài ba tướng khổ, vô thường và vô ngã. Có lẽ do thường xuyên quán sát sự việc như vậy, nên lan phuong có cái nhìn hơi khác mọi người một chút.

Cám ơn rất nhiều sự ủng hộ của CPT và đạo hữu nguyen tam.

Đạo hữu nguyen tam nếu muốn có thể liên lạc với lan phuong qua địa chỉ email phuonglanvn09@yahoo.com

Chúc CPT và đạo hữu nguyen tam luôn an lạc.

With metta
nguyen tam 18/10/2009 21:23:33
bài viết của đạo hửu Lan Phương that chí lý va thật hợp lẽ đạo.
Tôi hoàn toàn đồng ý . chay mặn tùy tâm. ăn để sống chứ không phải sống để ăn. Quan trọng là cách ăn thế nào để có sự thanh cao .
Xin đươc liên lạc với đạo hửu để được học hỏi thêm trên bước đường tu tập
CPT 01/10/2009 11:45:53
Tôi đã đọc nhiều bài phản hồi của lan phuong ở nhiều bài viết khác nhau trên PTVN. Rất hay, rất sâu sắc.
lan phuong 29/09/2009 15:25:17
Theo tôi thì ăn mặn cũng sát sinh, mà ăn chay cũng sát sinh.

Lúa, gạo, hoa màu không phải tự nhiên mọc lên cho bạn ăn, muốn có nó, người nông dân phải làm ruộng, làm vườn, quá trình làm ruộng và vườn thì phải giết côn trùng, cá, lươn, ếch, nhái, chuột đồng, sâu rầy v.v...

Bạn không thể sống mà không ăn, mà đã ăn thì dù ăn chay hay ăn mặn, dù muốn dù không bạn phải giết hại, phải sống dựa trên sinh mạng của những loài khác, bản chất của cuộc sống là như vậy, điều này Đức Phật đã nhận ra khi Ngài còn là đứa trẻ chín tuồi, theo vua Tịnh Phạn tham dự lễ hạ điền, cũng chính vì vậy mà Đức Phật dạy rằng bản chất của cuộc sống là khổ đau.

Là người hiểu rõ bản chất của cuộc sống như vậy nên Đức Phật không bắt chúng ta phải ăn chay hay ăn mặn, Ngài dạy rằng thức ăn chỉ dùng để nuôi thân, khuyên chúng ta ăn trong chánh niệm, ăn vừa đủ no, khi ăn phải quán sự bất tịnh của thức ăn. Vì sao vậy?

Ngài không cổ xúy cho một hình thức ăn uống nào – ăn chay hoặc ăn mặn – vì Ngài không muốn phải đổ tất cả đau khổ lên một loài nào và bắt chúng phải gánh toàn bộ đau khổ. Nếu Đức Phật bảo rằng chúng ta phải ăn chay và mọi người tranh nhau ăn chay, để đáp ứng nhu cầu gạo, rau đậu, và ngũ cốc, người nông dân phải tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất thì phải tăng canh, một năm thay vì trồng ba vụ, thì phải tăng lên bốn vụ, năm vụ…trồng xen canh, luân canh, đất bị cày xới liên tục, phân và thuốc được diệt sâu rầy được xịt liên tục… các bạn cứ tưởng tượng đi, có con ếch, con nhái, con chuột đồng… nào còn sống sót nổi không? Nếu bạn là con rầy và bạn truy sát ráo riết nhu vậy, bạn có đau khổ không? Trong khi những con vật khác như heo, bò, gà, vịt thì lại được thả rông đi chơi (giống như bò bên Ấn Độ), các bạn có thấy phi lý không?

Đức Phật không cho phép ăn tam tịnh nhục, vì nó mang tính gián tiếp sát sinh quá rõ ràng. Ngoài ra, Ngài không đặt nặng vấn đề ăn chay hay ăn mặn vì Ngài muốn các pháp diễn ra một cách tự nhiên, con nào bị ăn thịt là cái nghiệp của nó. Người tu của chúng ta khi cầm bát cơm lên ăn, quán sát sự bất tịnh của thức ăn, thấy sự đau khổ do miếng ăn hàng ngay mang lại lấy đó mà làm gương, lo tinh tấn tu tập để giải thoát khỏi cái vòng loanh quanh luẩn quẩn của sự luân hồi càng sớm tốt, chỉ được ăn vừa đủ no để giảm thiểu sự sát hại đến mức tối đa.

Có nhiều người cho rằng ăn chay là từ bi là thanh tịnh nhưng làm sao mà từ bi và thanh tịnh được khi miếng ăn của bạn vẫn dựa trên sinh mạng của biết bao nhiêu loài khác? Các bạn chỉ hoàn tòan từ bi khi các bạn không ăn gì, nhưng làm sao có thể sống mà không ăn gì?

Cũng có người cho rằng tu phải ăn chay, nếu không ăn chay thì không giải thoát được, tôi cho rằng đây là một quan niệm sai lầm, giải thoát hay không không do ăn chay hay ăn mặn mà do trí tuệ. Đức Phật là người ăn mặn, nhưng Đức Phật vẫn giải thoát, con trâu, con bò con ngựa, con voi và vô số những loài ăn cỏ khác ăn chay từ lúc mới sinh ra cho đến chết mà vẫn không giải thoát được, vì sao vậy? vì chúng không có trí tuệ.


Vậy thì thay vì cứ tranh cãi chuyện ăn chay hay ăn mặn xem ăn thế nào là từ bi, các bạn nên ăn trong chánh niệm và ăn vừa đủ no. Đức Phật thật sáng suốt khi khuyên chúng ta như vậy. Do sự tham lam, ăn uống vô độ của con người nên chúng ta đang đứng trước nạn đói. Để đáp ứng nhu cầu của con người, ngành chăn nuôi công nghiệp đã áp dụng một phương thức chăn nuôi vô nhân đạo là nuôi nhốt con vật tại chỗ, con vật ăn no bằng các thực phẩm tăng trọng, vỗ béo nhưng không cho chúng đi lại, tập quán chăn nuôi này giúp tăng sản lượng nhưng bù lại là gì? Do không họat động nên con vật có sức đề kháng kém, dễ bị nhiễm bệnh và khi nhiễm bệnh thì lây lan rất nhanh do bị nhốt sát bên nhau, bằng chứng là những trận cúm heo, cúm gà đấy thôi.

Ngay cả rau, đậu cũng vậy, nào là xịt phân bón và hái trước ngày quy định cho cây trái thấy tươi tốt, to mập, nào là xịt thuốc kích thích rồi tăng trưởng, nào là thực phẩm biến đổi gene… đậu hủ thì dùng thạch cao công nghiệp để giúp đậu đông nhanh và cứng hơn.

Hãy ăn vừa đủ no để thể hiện lòng từ bi, đó là điều quan trọng nhất. Đừng nghĩ rằng chúng ta ăn chay nên không sát sanh và cứ thế mà ăn uống thoải mái, chẳng ai đếm được bao nhiêu xác con rầy đã chết trong một vài muỗng cơm ăn thêm của chúng ta, mà đâu phải chỉ có riêng một loài rầy… Ngoài ra đây cũng là một cách để bảo vệ sức khỏe, vì nếu ai cũng ăn vừa đủ no, nhu cầu tiêu thụ giảm xuống thì người ta sẽ chăn nuôi theo một cách khác, trồng trọt theo một cách khác, không cần cho súc vật ăn thức ăn tăng trọng, không cần xịt rau quả bằng thuốc kích thích chẳng hạn.
tdn 27/09/2009 18:32:12
adidaphat
an chay de tam hon duoc thanh than
an chay de tranh nghiep bao sau nay
an chay de mo thong tri tue
an chay de the gioi duoc hoa binh ,con nguoi song trong am no hanh phuc
vi vay moi nguoi can phai an chay
Thích Thông Tuệ 24/09/2009 15:12:28
Thật là phi lý
Tôi không biết ai đã cố tình bóp méo lời Phật dạy.
Là phật tử chúng ta không câu nệ việc ăn uống. Nhưng không lấy cái ăn của mình dựa trên sự đau khổ của các loài khác.
Tôi xin lỗi Tỳ kheo Thiện Minh. Nhưng ông đã hiểu sai ý phật rồi.
yellow leaf 22/09/2009 16:54:36
Thời Đức Phật cũng như Phật Giáo tại các nước Miến Điện, Thái Lan, Cam pốt, Ai Lao, . . . ngày nay, quý vị tu sĩ và các Chùa không tự nấu thức ăn mà khất thực. Phật tử cúng dường gì thì quý Ngài dùng nấy chứ không đòi hỏi. Mỗi ngày quý Ngài chỉ thọ thực 1 lần duy nhất, không ăn uống phi thời.
Vì thế quý Ngài không quan trọng hóa về đồ ăn thức uống. Quý Ngài không yêu cầu Phật tử cúng dường theo thức ăn theo yêu cầu. Tuy nhiên, giới trọng của Phật Giáo là "không sát sinh" đã nói rỏ rồi.
Khi Phật Giáo qua Trung Hoa, các Chùa được triều đình cấp đất để tự sản xuất. Phải vừa lao động sản xuất, vừa giữ thời khóa tu hành nên quý Ngài không thể ăn mỗi ngày một bữa nữa; và; các Chùa tự nấu thức ăn nên không thể ra chợ mua thịt hay giết động vật để ăn thịt nên quý Ngài ăn chay trường, ăn rau đậu.
Ngày nay, nếu Chùa nào tự nấu thức ăn lấy mà vẫn ăn thịt dù mua ngoài chợ hay tự làm lấy cũng không hoàn toàn không nên. Sát sanh gián tiếp hay trực tiếp đều phạm TRỌNG GIỚI của Tỳ Kheo.
Quý cư sĩ Phật tử chọn cách ăn chay trường cũng rất tốt, tuy nhiên quý đạo hữu đừng quá câu nệ, ly khai với người còn ăn mặn. Chúng ta cần hiểu rằng ăn chay là hạn chế sát sanh thôi.
Khi tu học theo Đạo Phật thì chúng ta đừng phân biệt Nam Tông hay Bắc Tông. Đạo Phật là đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lập nên để dạy chúng sanh diệt khổ, giải thoát; chỉ có "người đời" mới bày ra tông này tông nọ, thừa này thừa nọ vì thiên kiến cá nhân. Âu cũng là cái ngã chưa diệt được.
Về vấn đề liên quan đến "thọ thực" trong Đạo Phật, HT Thanh Từ đã có dạy trong một bài viết được đăng ngay trên PTVN, quý vị tìm xem.
1 2 next tổng cộng: 22 | đang hiển thị: 1 - 20
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả