Vô ngã- Vị tha
image

Trong một cuộc nói chuyện với Phật tử, tôi nhận thấy nhiều người đã hiểu ai tinh thần của đạo Phật qua giáo lý Vô ngã – Vị tha và Bi – Trí – Dũng. Bài viết này nhằm giúp các Phật tử ít có cơ hội tìm hiểu kinh điển nguyên nghĩa (công truyền và tinh yếu) liên quan đến những giáo lý căn bản và pháp hành phổ thông trong đạo Phật.

 Như một câu cửa miệng, nhiều người nói đạo Phật là đạo của Vô ngã – Vị tha, nôm na hiểu là quên mình giúp người. Ngược lại, Thiên chúa gíao lại chỉ trích ĐẠO PHẬT là thiếu tính xã hội và thiếu tinh thần phục vụ, chỉ lo tích đức, tang phước hay giải thao1t cho cá nhân mà thôi. Về một mặt nào đó, quả là đã có những người hay nhóm người hiểu không chính xác, thực hành sai và gỉang dạy thiên lệch về tinh thần Giác ngộ và Siêu thế trong ĐẠO PHẬT khiến cho những lời phê bình trên là không hoàn toàn vô căn cứ. 

Đức Phật có day quên mình giúp người không? Câu trả lời là khẳng định! Trong các câu chuyện Tiền thân (Jataka stories) khi đề cập đến Bố Thí Ba La Mật (danaparami), Bồ Tát đã hy sinh không chỉ tài sản (tài thí – cấp độ thứ nhất của hạnh bố thí hay xả bỏ) mà Ngài còn cho đi từng phần của thân thể hay cả tính mạng của chính mình nữa để cứu giúp tha nhân khi cần thiết. Chỉ riêng hạng Ba la mật này cũng đã thể hiện đầy đủ tinh thần Bi – Trí – Dũng nếu nó được thực hành một cách đúng đắn.Thấy tha nhân đau khổ, thiếu thốn, hành giả chia sẻ những gì mình có để giảm thiểu nỗi khổ của người khác – đây chính là Bi.Bi khi đi với trí thì không lụy, ngược lại, bi mà thiếu trí thì rất dễ bị lụy, nghĩa là giúp người không hữu hiệu mà còn mang phiền toái hệ lụy đến mình. Như người không biết bơi hay bơi chưa giỏi mà lao xuống song cứu người chết đuối thì kết quả là cả hai đều chết chìm. Nhưng từ sự hiểu rõ tình huống và muốn giúp, và nỗ lực đúng cách để giúp khi cần thiết thì đó chính là Bi – Trí – Dũng. Tại sao lại dùng từ ‘cần thiết’? Vì trong một số tình huống, sự giúp đỡ chỉ làm xấu thêm tình hình: như tiếp tay cho kẻ trộm, tham ô, móc ngoặc chẳng hạn, hay o bế người ta quá khiến kẻ đó trở nên lệ thuộc, ỷ lại, mất đi tính độc lập và tự tin vào khả năng vươn lên của mình thì cũng không nên.
 
Trong Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya) có liệt kê về bốn hạng người thiết nghĩ cũng nên biết đến ở đây.Gì là bốn hạng người đã được đề cập?Hạng người thứ nhất thì “sống như đã chết” nghĩa là  không đem đến lợi ích cho ai cả, buông trôi ngay cả chính cuộc đời mình.Đây là loại người không có một định hướng nào trong cuộc sống (maladjudgement and inadequate).Hạng người thứ hai thì chỉ lo cho lợi ích của người khác mà không thấy quan tâm đến lợi ích của chính mình. Những người kiểu này thường bị chế giễu là “ăn cơm mà vác ngà voi” trong dân gian vì họ quá năng nổ trong các công việc xã hội mà lại quên đi bổn phận với chính mình và gia đình mình. Hạng người thứ ba thì lại chỉ chăm chăm vào lợi ích của chính mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác. Những người như vậy thì hay bị chỉ trích là ích kỷ và thủ phận. Những chỉ trích này có xác đáng hay không chúng ta sẽ thấy trong phần sau. Hạng người thứ tư thì làm việc vì lợi ích của chính mình và đe, lợi ích đến cho những người khác nữ. Các vĩ nhân trên thế giới là những người có nhân cách, trí tuệ và tinh thần phục vụ tuyệt vời này.
 
Trong bốn hạng người kể trên, Đức Phật nói rằng hạng người thứ tư là tuyệt vời nhất, đáng ca ngợi và khâm phục nhất. Điều này thật dễ thấy, trong bất cứ cộng đồng hay xã hội nào, hạng người năng động, sang tạo và đầy thiện chí như vậy cũng được tán dương. Nhưng hạng người tốt kế tiếp trong thước đo của Bậc Giác Ngộ lại không như chúng ta thường nghĩ một cách hời hợt. Người biết làm việc vì lợi ích của chính mình, dù không mấy bận tậm đến thiên hạ ra sao, lại được xếp vào hạng người tốt thứ hai, hơn cả người chỉ lo cho người khác mà không tự làm lợi ích cho mình.Hạng người tồi nhất là không lợi ích cho ai cả, điều này thì quá hiển nhiên không cần thiết phải giải thích.Trong bài pháp đó, Đức Phật cũng giải thích thế nào là làm lợi ích cho mình và làm lợi ích cho người. Người sống có nguyên tắc, tự chủ và điềm tĩnh, luôn tinh tấn trong các thiện pháp dẫn đến hạnh phúc tối thượng (Niết bàn, nơi vắng bóng tham, sân, si, trạng thái đã đoạn tận mọi khổ lụy) thì được gọi là người sống vì lợi ích của chính mình. Người tự mình thực hành những pháp thiện xảo như vậy, lại dạy bảo, nâng đỡ người khác để họ cùng sống đời sống chuẩn mực và hữu ích thì được gọi là người đem lợi ích đến cho mình và cho tha nhân.Người chỉ dạy người khác sống tốt mà tự mình không thực hành những điều đã dạy người thì gọi là người không biết sống cho lợi ích của chính mình.
 
Như vậy, rõ ràng chữ ‘vị tha’ ở đây là rất thực tế, nó không chỉ là thiện ý, mà còn là thực lực và phương pháp nữa. Bạn chỉ có thể cho những gì bạn có, bạn không thể cho những gì mình không có.Chỉ khi bạn vừa có thực lực, vừa có thiện ý thì mới có thể làm từ thiện.Nếu bạn không có gì cả ngoại trừ một đống khổ đau, bối rối và mất phương hướng trong cuộc đời thì bạn cũng không thể giúp được ai, dù bạn yêu thương người ta đến đâu đi nữa thì cũng chỉ là những ý tưởng hão huyền không thực tế. Khi bạn đang buồn bực, phiền muộn, làm sao bạn có thể cho người khác hạnh phúc an vui? Bầu không khí quanh người phiền muộn lo âu hay giận dữ cũng bị ảnh hưởng cái nóng nảy bức xúc của một vài cá nhân đang có tâm trạng không vui. Và nó có thể trở thành một phản ứng dây chuyền dẫn tới một cuộc bạo động hay nổi loạn. Ngược lại, khi bạn đang vui vẻ hạnh phúc, dù bạn không có tác ý ‘cho người’ cái tâm trạng hạnh phúc đó thì những người thấy bạn cũng cảm nhận được cai tinh thần phấn chấn của bạn. Và như vậy là bạn đã ‘cho’ cái nguồn sinh lực tích cực đó rồi. Do vậy hãy làm sao cho chính bạn được hạnh phúc an vui, rồi bạn mới có thể cho người niềm hạnh phúc an vui. Nếu bạn vừa có thiện ý, vừa có khả năng và phương tiện thiện xảo nữa thì thật tuyệt vời.
 
Trong một bối cảnh khác đức Phật lại khuyến khích chúng ta hãy phát tâm từ bi vô lượng đến tất cả chúng sanh: dù lớn hay bé, dù thấp hay cao, dù sang hay hèn, dù gần hay xa, dù thấy được hay không thấy được. Hãy đối xử với mọi người bằng tình của một người mẹ luôn yêu thương và hy sinh cho đứa con duy nhất của mình. Hãy duy trì tình thương cao cả và quên mình này trong mọi lúc, mọi nơi, từ lúc mở mắt chào một ngày mới cho đến khi rơi vào giấc ngủ an lành. Đừng bao giờ ôm ấp những tâm niệm sân si hờn oán và mong người gặp khổ đau hoạn nạ.Đừng dối lừa người dù chỉ là một lời hứa suông.Hãy thương và ôm trọn vào lòng ngay cả những khiếm khuyết và bất toàn của mình và tha nhân. Tình thương và sự cảm thông sẽ hóa giải và chuyển biến những năng lực hay phẩm chất tiêu cực, vô dụng, hay thậm chí độc hại thành hữu ích, tích cực và tốt lành.
 
Thương những gì dễ thương thì thật dễ, bất cứ một người bình thường nào cũng có thể làm được; nhưng thương những gì khó thương, những trái ý nghịch long, những cừu thù oán hận thì không phải là dễ. Tâm chúng ta quen phân biệt xấu – tốt, được – mất, hay – dở, thích – không thích, thân – không thân, bạn – thù, vv. Những phân biệt của chẻ nhị nguyên nà thường là điểm xuất phát của nhiều thứ phiền não khác như ích kỷ, ganh tỵ, thiên vị, thiếu bao dung hay đố kỵ, hiềm hận … Biết chăng những giá trị mà chúng ta gán cho đối tượng thì rất chủ quan, phiến diện và thường bị ảnh hưởng bởi cảm tính nên chúng không phải là những thước đo đáng tin cậy. Ý thức được điều này, người thiện trí không để cho những cảm tính chủ quan dẫn đến những tình cảm thiên vị hay đố kỵ, không phản ứng hay cư xử một cách hấp tấp, bốc đồng (react impulsively). Người thực hành rốt ráo những gì Phật dạy thì không xem ai là kẻ thù, nhìn tất cả chúng sanh bằng cái tâm bao dung, cởi mở và bình đẳng không phân biệt. Đây mới đích thực là tinh thần vô ngã của đạo Phật.
 
Vô ngã không phải là xả mình hay quên mình co một mục đích nào đó (cho người thân yêu, cho chủ nghĩa – lý tưởng mà mình tôn thờ, cho đất nước hay tôn giáo… - chúng ta sẽ bàn thêm ở phần sau – chúng ta chỉ là những giá trị mở rộng của bản ngã), mà vô ngãy là không chấp thủ - vô phân biệt, bình đẳng và trung dung trước mọi cao – thấp, tốt - xấu, hơn – thua, được – mất, và thị phi của cuộc đời. Vô ngã không phải là quên mình, mà là biết mình, biết người nhưng không chấp thủ vì thấy được sự vận hành không ngừng của vạn chấp thủ vì thấy được sự vận hành không ngừng của vạn pháp trong đó có cả những gì cấu trúc nên mỗi cá nhân. Sự vận hành đó có tính tương quan nhân duyên, khi những yếu tố như vậy, hoàn cảnh như vậy cùng xuất hiện thì hiện tượng như vậy sinh khởi, khi những yếu tố điều kiện thay đổi thì sự vật, con người và các hiện tượng cũng thay đổi. Thấy được những thay đổi, vận động, hình thành và tan rã không ngừng trong mọi hiện hữu, chúng ta sẽ thôi chấp thủ vào một giá trị bất biến hay một bản ngã thường hằng đang tồn tại trong ta (ãtman) hay ngoài tầm nhận thức của chúng ta (Thượng Đế - God or Brahma).
 
Đức Phật không cho rằng có một soạn giả hay đạo diễn nào đằng sau những vở kịch cuộc đời nay. Nó là một sự vận hành theo các quy luật vô ngã, hay nói theo ngôn ngữ thông thường, chúng là những quy luật tự nhiên có tính tương tác và chi phối lẫn nhau trong một sự vận động không ngừng. Nói như vậy không có nghĩa là mọi chuyện xảy ra một cách ngẫu nhiên và tùy hứng, và chúng ta không phải chịu trách nhiệm cho chính cuộc đời mình. Thật ra phản ứng của chúng ta, cái phản ứng xuất phát từ khuynh hướng từ chối và thủ giữ của bản ngã chấp thủ quyết định phẩm chất của những kinh nghiệm mà chúng ta đã đi qua, đang là và sẽ gặp trong cuộc đời. Cái bản ngã mà chúng ta tự tạo nên như một vỏ bọc để tồn tại, để chống lại những gì khiến chúng ta đau khổ, bất mãn vốn không thực. Do nhân duyên, hoàn cảnh, chúng đã được tạo nên và chúng có những giá trị đối trị nhất thời nhưng nếu chúng ta tuân thủ giữ vào những hình mẫu giả tạo và lỗi thời này, chúng ta sẽ không bắt kịp nhịp độ vận hành tự nhiên của vạn pháp trong đó những gì cấu thành nên một nhân cách, một cá tính cũng đã thay đổi. Sự thủ giữ tất yếu sẽ dẫn đến xung đột ngay bên trong cá nhân đó cũng như xung đột trong các mối quan hệ của cá nhân đó với môi trường xung quanh.
 
Vì chúng ta chấp thủ cái thân nay (sắc uẩn) là ta nên mới o bế, chiều chuộng và thỏa mãn mọi đòi hỏi của nó. Nếu ai động đến nó, chúng ta cảm thấy bị tổn thương và căm hận tìm cách trả đũa. Vì xem thân ta là ta nên mới tránh lao tổn tấm thân đó vì người, người chấp thân là ta thì thường rất ích kỷ và không phục ai cả, chỉ lo giữ lấy tấm thân lành lặn. Vì chấp thân là ta nên khi nó khỏe mạnh thì chúng ta hạnh phúc hồ hởi, khi nó bệnh hoạn đau ốm thì chúng ta sầu muộn lo âu, than thân trách phận. Khi thân đẹp trẻ trung thì kẻ đồng hóa với thân đó là tự kiêu, ngã mạn; khi thân đó xấu xí, bệnh hoạn và già nua thì người ta mặc cảm tự ti. Chấp thủ vào thân thể, làm chúng ta bất an và lo lắng. Chấp thủ vào thân thể, vật chất, tài sản,… là cấp độ thô thiển nhất (và cũng phổ biến nhất) của ngã chấp. Trong thuật ngữ Phật học, chúng được gọi là thân kiến (sakkayaditthi). Kế đến là chấp thủ vào cảm thọ, nhận thức (thọ uẩn và tưởng uấn), như chúng ta đã đề cập sơ qua ở phần trên, đó là cái tâm phân biệt, đánh giá và phản ứng hấp tấp vội vàng. Từ những cảm nhận, đánh giá và phản ứng đó khiến sanh ra những tâm trạng vui – buồn, yêu – ghét, v.v… (hành uẩn). Và những chất liệu vừa kể trên được tích trữ làm nền cho những phản ứng mới một cách có ý thức hay bị điều động bởi vô thức (bao gồm trong thức uẩn).
 
Khi có sự chấp thủ, nghĩa là có sự nắm bắt, sở hữu và giới hạn, vô hình chung chúng ta tự khóa mình, tự điều kiện hóa và giới hạn những cảm giác, nhận thức và thái độ hay phản ứng của chúng ta trong một cái khung nhất định gọi là bản ngã. Cái bản ngã đó đã được hình thành do nhiều yếu tô như gia đình, xã hội, những điều kiện thiên nhiên, văn hóa, giáo dục, lịch sử và v.v… Như đã bàn ở trên, những yếu tố đó, điều kiện đó vốn không ngừng thay đổi, nhưng sự thủ giữ lại đóng khung chúng ta lại trong một định kiến hẹp hòi và một hình mẫu hay ý tưởng lỗi thời khiến cho những phản ứng của cái bản ngã đó chỉ đem đến đau khổ, bức xúc vì thiếu hòa hợp với hoàn cảnh mới và không bắt kịp sự vận hành không ngừng của thế giới khách quan. Thực ra cái thế giới chủ quan (bản ngã) cũng vận động và biến hóa không ngừng, nhưng khuynh hướng thủ giữ lại cố từ chối, cố chống lại, cố điều khiển và thao túng những thay đổi đó, và chính cái ý chí chủ quan này là nguyên nhân của hầu hết những xung đột, đau khổ và tang thương trong đời.
 
Tại sao con người lại có khuynh hướng thủ giữ và tạo lập bản ngã? Đức Phật nói đó là vì vô minh. Vô minh là một thuật ngữ Phật học để chỉ cho sự thiếu hiểu biết (ignorance) hay sự hiểu biết không đầy đủ (incomplete knowledge) và sự nhận thức bị bóp méo vì cảm quan cá nhân (vipallasa in Pãli, and parika in Sansk). Trên phương diện tâm lý, thủ giữ là một phản ứng có khuynh hướng tự duy trì nhân diện (identity) của bản thân. Không có một nhân diện, người ta sợ hãi và bất an (vì nhận thức) rằng mình không là ai cả, không là gì cả, là con số không. Bấp bênh và lo lắng, người ta sẵn sàng bám víu vào bất cứ một cái gì, dù chỉ là tạm thời, cho họ cảm giác mình đang tồn tại, đang hiện diện và phải được công nhận. Niềm khát khao được nhận ra, được chú ý và được quan tâm, được kính trọng khiến người ta phải tự tạo cho mình một nhân cách, một cá tính để khẳng định sự tồn tại độc lập và đặc biệt của mình. Thực ra thì hình thành hay duy trì một nhân cách hay một cá tính không có gì là sai trái cả, nhưng sự chấp chặt vào những ý kiến chủ quan và những phản ứng cảm tính mới làm thành vấn đề.
 
Đây là một xu hướng tâm lý khá tự nhiên và cực kỳ phổ biến đến nỗi không ai tự hỏi nó có cần thiết hay không. Chính vì nó được xem là “tự nhiên” nên người ta không cưỡng lại sự thôi thúc có tính bản năng này, hay tệ hơn nữa là tìm mọi cách để “vật chất hóa” những ý tưởng về mình. Khi những ý muốn này được chấp nhận trong điều kiện thực tế, người ta cảm thấy an tâm và tự tin hơn, chúng ta gọi họ là những kẻ thành đạt và hạnh phúc trong đời. Nhưng khi những ý muốn đó không gặp gỡ với thực tế cuộc sống (điều kiện bản thân – gia đình, điều kiện kinh tế, điều kiện văn hóa và xã hội, v.v…) thì thường có hai khả năng xảy ra: nó tự động biến đổi, ngụy trang để dễ chấp nhận hơn, hoặc nó sẽ chán nản, thất chí và đơn phương tuyệt vọng chống lại toàn thế giới! Cả hai khả năng đều là khổ đau, bất hạnh dù cho được dấu diếm che đậy hay lộ liễu một cách bất cần.
 
Trở lại với vấn đều vô ngã – vị tha, chỉ khi nhận thức rõ cả hai khía cạnh của bản ngã: tính chất giả tạo và tạm thời của nó, và những khổ đau – xung đột mà trong quá trình tạo lập và duy trì nó chúng ta phải trả qua, người ta mới bắt đầu xem xét lại và nghi ngờ về tính đích thực của những gì vừa trải nghiệm. Người ta thôi chụp bắt và thủ giữ, người ta buông bỏ những giá trị đã bị đóng khung và giới hạn vì thành kiến và định kiến. Người ta không còn bị đẩy tới những thúc dục như “phải chứng tỏ”, “phải hiện diện”, “phải cho thấy”, “phải chứng minh”, “phải đạt được” v.v… Chỉ những hành động không bị chi phới bởi tham, sân, si thì mới gọi là vô ngã, không vị kỷ, không chấp thủ. Một hành động vị tha thực sự phải xuất phát từ trí tuệ và lòng bi mẫn. Trong phần kế tiếp chúng ta sẽ bàn tiếp về vấn đề này

BI – TRÍ – DŨNG
BA THẾ ĐỨNG TRONG ĐẠO PHẬT
 
Trong phần I chúng ta đã đặt ra câu hỏi phải chăng Đạo Phật đưa người ta đến cái nhìn bi quan yếm thế trước cuộc đời, qua những phân tích về kinh nghiệm sống ở phần I và thủ chấp ở phần II thì chúng ta đã ít nhiều thấy rằng hiển nhiên là không như vậy. Như một vị lương y sáng suốt và bi mẫn, Bụt đã thấy rõ bệnh của chúng sinh: Khổ Đế chỉ là triệu chứng của bệnh, Tập Đế là nguyên nhân của bệnh, Diệt Đế là sự hoàn toàn vắng bóng những nguyên nhan và triệu chứng đó, và Đạo Đế là phương cách để chuyển hóa, loại trừ các nguyên nhân và triệu chứng của bệnh. Như vậy, Tứ Diệu Đế là một phát hiện thực tế, hoàn hảo, logic và tuyệt vời nhất trong những khám phá về con người và cuộc sống. Người viết đang tự nghĩ không biết các nhà xét duyệt những giải thưởng Nobel có bao giờ nghĩ đến điều này chưa? Một phát hiện thiết thực, khoa học và đầy nhân bản như vậy hơn hai ngàn năm trăm năm trước mà cho đến bây giờ vẫn không được đánh giá và thẩm thấu đứng mức thì quả là một thiếu sót lớn.
 
Xung đột, vấp ngã và khổ đau là những bài học trong cuộc đời để chúng ta trưởng thành và trở nên nhân hậu hơn trước con người và cuộc sống. Những kinh nghiệm sống mà chúng ta đã đi qua, đang trải nghiệm và sẽ gặp trong đời không phải là những thưởng phạt của một Đấng toàn năng nào cả. Chúng được tạo ra bởi chúng ta, bởi những phản ứng của chúng ta trước các tình hướng thực tế của cuộc sống. Theo Đạo Phật thì mỗi người là vị kiến trúc sư của chính cuộc đời mình. Nếu ta phản ứng tiêu cực thì tình huống sẽ tồi tệ hơn, và cuộc sống sẽ đi xuống. Nếu ta phản ứng tích cực thì tình hướng sẽ được cải thiện, và cuộc đời sẽ đi lên, ngày càng tốt đẹp hơn. Ở một mức độ nào đó chúng ta có quyền lựa chọn một cách sống tốt nhất cho chính mình, một hướng đi cho đời mình. Những gì chúng ta đang làm trong hiện tại quyết định tương lai của chúng ta, và những gì mà chúng ta đang trải qua bây giờ là kết quả của những tạo tác của chúng ta trong quá khứ. Với một tầm nhìn sâu rộng như vậy chúng ta trong quá khứ. Với một tầm nhìn sâu rộng như vậy chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời vốn công bằng và không thiên vị - đó là quy luật của nghiệp – quả, một trong năm quy luật điều động sự vận hành của cuộc sống.
 
Bạn có thể nói rằng chúng ta không có quyền lựa chọn cha mẹ, giống nói, đất nước và thời đại mà chúng ta đã sinh ra. Nhiều người đã than thân trách phận vì không xinh đẹp, không khỏe mạnh, không sinh đúng thời v.v… Làm như vậy thì có ích gì đâu? Theo quy luật của nghiệp thì do những người đó đã tạo tác những nghiệp bất thiện hay tiêu cực trong quá khứ (đời trước) nên nay mới sinh ra trong hoàn cảnh kém hấp dẫn như vậy. Nếu người đó vẫn có những phản ứng tiêu cực thì chỉ làm cho tình thế xấu hơn mà thôi. Người viết đã từng gặp những người bị tâm thần vì ganh tỵ, thất vọng, thất chí hay thất tình. Trở nên phản ứng tiêu cực được lặp lại thường xuyên khi nạn nhân (mà thực ra cũng là chủ mưu!) phải đối diện với một thực tế không như ý, hay những tình huống bi đát. Kể ra thì không ai trong chúng ta không từng gặp những hoàn cảnh ngang trái, những trái ý nghịch lòng trong cuộc đời, nhưng phản ứng ra sao trước những tình huống như vậy chính là chìa khóa của vấn đề. Và đây chính là cơ hội để chúng ta lựa chọn. Một sự lựa chọn thiếu sáng suốt sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại, và ngược lại, một sự lựa chọn khôn ngoan và sáng suốt sẽ đem đến những thuận lợi.
 
Có lẽ chúng ta đều biết câu chuyện cổ tích “Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn”. Bà hoàng hậu mẹ kế của Bạch Tuyết vốn rất xinh đẹp, đã được chọn làm hoàng hậu, nhưng bà này quá tham vọng và kiêu hãnh. Bà muốn rằng mình là kẻ đẹp nhất thế gian, và sẵn sàng tiêu diệt hay hạ thủ bất cứ địch thủ nào trong khả năng quyền lực của mình. Bà không chịu nổi khi nghe chiếc gương (thật ra là cái tâm kiêu hãnh, ngạo mạn, và đầy ganh tỵ của bà) nói rằng ngay trong hoàng cung có một người xinh đẹp hơn bà. Mù lòa vì ganh tỵ và đố kỵ, bà đã làm một tội ác lớn mà kết quả cuối cùng là cái chết nhục nhã của chính bà. Câu chuyện cổ tích đầy ý nghĩa khác là “Ông lão đánh cá và con cá vàng”. Sự may mắn mà ông lão đánh cá có được là do kết quả của lòng từ bi của chính ông lão, nhưng những phần thưởng từ vị thần biển lại chỉ khiến người vợ tham lam một cách ngu ngốc của ông tạo nghiệp xấu. Lẽ ra phải hoan hỷ vui sướng với những gì chồng mình đem về, người vợ tham lam này chỉ biết tìm lỗi và đay nghiến chồng vì không mang về những thứ tốt hơn. Trong chúng ta có bao nhiêu người có những phản ứng và lựa chọn cách cư xử ngu ngốc như thế này trước những gì cuộc sống đem đến cho ta?
 
Nếu không có những đau khổ trong cuộc đời làm sao chúng ta biết khước từ những thú vui tạm bợ và hướng đến chân hạnh phúc của sự buông bỏ không thủ giữ? Nếu không thấy và trải nghiệm những khổ đau cay đắng trong đời, làm sao có thể sanh khởi lòng từ bi và bác ái? Nếu chúng ta biết rằng con người thì vốn bất toàn khiếm khuyết, những gì xảy ra trong cuộc đời chính là những thử thách và bài học để chúng ta tự hoàn thiện mình, thương mình và thương người một cách đúng đắn hơn thì tất cả những người mà ta đã gặp đều có những khía cạnh đáng thương, chúng ta trở nên nhân hậu và bao dung hơn trước con người và cuộc sống.
 
Tôi có một người bạn tuổi thơ sinh ra trong một gia đình nhiều con, nghèo nàn và lam lũ như nhiều đứa trẻ khác trong cái xóm núi heo hắt đó. Để bù lại, cô bé khỏe mạnh, chân chất và rất hiếu thảo. Sau hơn mười năm xa nhà, tôi trở lại thăm quê, gặp lại những người bạn từ thời để chỏm mà nay hầu hết đều trở thành thiếu phụ, mẹ của ba đứa trẽ trạc tuổi chúng tôi hồi xưa. Chị tôi than thở và tỏ vẻ thương hại cho một người hàm xóm “xấu số”, chị cũng bóng gió cứ trách cứ chồng mình không lanh lẹ bặt thiệp như người ta. Khi tôi gặp lại cô bạn nhỏ đó tôi thấy bạn vẫn rất vui vẻ và thành thật như xưa. Tôi hỏi bạn: bạn có hạnh phúc không? Bạn trả lời “có”. Tôi yêu cầu bạn giải thích vì sao bạn vẫn cảm thấy hạnh phúc, bạn nói: “Mặc dù mình lấy chồng khá muộn so với bạn bè (ở quê tôi con gái thường lấy chồng ở cỡ tuổi 16 -22, sau cái tuổi đó mà chưa có chồng thì thường trở nên mối lo cho gia đình, sợ bị “ế chồng”), và chồng mình lớn tuổi hơn nhiều, nhưng anh ấy rất hiểu vợ và rất tâm lý. Mặc dù sức khỏe chồng mình nay rất yếu, cha mẹ chồng lại luôn bệnh hoạn, nhưng để bù lại, họ lại biết phải chăng, họ luôn cố gắng để không trở nên gánh nặng cho mình. Mình biết ơn những cố gắng đó của chồng và bố mẹ chồng. Các con mình tuy đều là gái, nhưng cháu rất ngoan ngoãn và giúp đỡ mẹ trong những việc nhỏ mà các cháu có thể làm được, không bao giờ để cho mẹ phải nghe hàng xóm hay thầy cô giáo kêu ca về các cháu. Các cháu cũng không đòi hỏi những thứ mà nhiều đứa trẻ may mắn hơn có được. Mình rất yêu con vì chúng khỏe mạnh và ngoan ngoãn như vậy. Mình phải làm việc rất vất vả để duy trì đời sống sáu người, nhưng mình yêu lao động và cũng đã quen vậy rồi.”
 
Khi biết hoàn cảnh của bạn, tôi rất thương, nhưng khi nghe những gì bạn nói, tôi càng kính mến bạn hơn. Trong một hoàn cảnh có thể nói là kém may mắn như vậy mà bạn vẫn luôn lạc quan và duy trì được một sự quân bình đáng khâm phục. Bạn đã lựa chọn sự chấp nhận hoàn cảnh và có cách cư xử khôn ngoan đầy đạo nghĩa. Thay vì than oán trách móc số phận hẩm hiu, bạn lại nỗ lực cải tạo hoàn cảnh và làm cho nó tốt đẹp hơn. Thay vì tìm lỗi người, bạn lại tìm những phẩm chất tốt đáng ca ngợi và trân trọng nơi những người kém may mắn khác. Không tự ti mặc cảm, bạn vẫn sống với thái độ tự tin và một tấm lòng đầy lòng nhân ái và quan tâm đến người khác.
 
Khi bạn biết cám ơn và trân trọng tất cả những gì mà cuộc sống đêm đến cho bạn, ít nhất lòng bạn sẽ không nổi sóng, và cuộc đời không có vẻ lắm phong ba bão tố. Nhưng khi bạn quá tham vọng và chỉ biết đòi hỏi thì thấy thiếu thốn và không thỏa mãn. Hạnh phúc an bình ở ngay nơi tâm ta, ngay nơi thái độ sống và cách cư xử của chúng ta trước những sự kiện, diễn biến của cuộc sống. Nếu chúng ta biết học những bài học trong đau khổ và trong những hoàn cảnh bất như ý thì chúng ta sẽ khôn lớn và nhân hậu hơn. Nếu bạn không chịu học từ những kinh nghiệm sống, bạn sẽ không “lên lớp” được, sẽ phải vấp váp và đau khổ nữa vì chưa học xong bài học phải hỏi trong cuộc sống. Chỉ có trí tuệ và lòng từ bi mới giúp chúng ta lèo lái con thuyền đời đến một bến bờ an toàn và tươi đẹp hơn.
 
Hãy lấy Từ Bi làm động lực cho cuộc sống, hãy dùng trí tuệ làm phương tiện thiện xảo, và ý chí vươn lên, tự vượt qua những yếu điểm của chính mình và của hoàn cảnh mà mình đã rơi vào chính là “dũng”. Dũng không phải là tranh đấu hơn thua với người khác mà dũng phải được hiểu là dám từ bỏ cái bản ngã ích kỷ hẹp hòi hay những quan điểm lỗi thời của chính mình đê thấy được những gì to lớn tốt đẹp hơn ở phía trước. Như ở trên chúng ta đã nói, chấp thủ chính là phản ứng của cái bản ngã yếu đuối để tự bảo vệ mình. Dũng là dám nhìn thẳng vào nó, gọi đúng tên những gì đang hiện hữu, chấp nhận và cải thiện nó với một thái độ tích cực. Nỗ lực ngăn ngừa những (tâm địa) xấu ác, tiêu cực chưa sinh, đừng để cho chúng sinh. Nỗ lực chuyển hóa và loại trừ những bất thiện pháp đã sinh, đừng để cho chúng bành trướng và điều động. Nỗ lực làm sinh khởi những thiện pháp chưa sinh, tạo điều kiện cho cái tốt hình thành. Và nỗ lực làm lớn mạnh những thiện pháp đã sinh, nuôi dưỡng những tâm niệm tốt lành chính là dũng. Kinh Pháp Cú dạy: “Giữa chiến trường thắng muôn quân địch không bằng tự thắng mình. Thắng mình chính là chiến thắng cao thượng nhất”.
 
Khi một hành động có động lực và từ bi, được hướng dẫn bởi trí tuệ, và được thực hiện với lòng kiên trì và nhẫn nãi thì đó chính là BI – TRÍ – DŨNG.
 
Theo: Vẻ đẹp cuộc sống dưới ánh sáng Tứ Diệu Đế  
Tác giả: Dhammananda Bikkhuni (Tỳ khưu ni Pháp Hỷ) 
Đánh máy: Thái Dũng Trung 

Mời bạn đọc đón xem tiếp bài bốn: Nghệ thuật sống đẹp mà không vướng mắc

 

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: trisu@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (0 bài gửi)

tổng cộng: | đang hiển thị:
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả
image Supanna