Trang chủ Diễn đàn Phật sự hôm nay Thư viện chùa: nghịch lý hoằng pháp?

Thư viện chùa: nghịch lý hoằng pháp?

434
0

 

Để có thể nêu được những ý kiến tốt về Phật sự này, chúng tôi có mời một người bạn đã tốt nghiệp khoa Thư viện – Thông tin học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia TPHHCM, đi thăm qua một số thư viện hay phòng đặt tủ sách nhà chùa, để sau đó có cuộc trao đổi ý kiến. Người bạn theo học chuyên ngành thư viện có tên thường gọi là Nguyễn Tài Đức. Dưới đây là cuộc trao đổi ý kiến chung quanh đề tài thư viện tu viện, tự viện Phật giáo.
 
Cư sĩ Minh Thạnh (CSMT): Phật giáo chúng tôi coi việc bố thí pháp, tức là trao tặng, cung cấp đến cho mọi người sự hiểu biết về giáo lý, là phương thức bố thí bậc nhất, hơn cả tài thí, của cải vật chất… Vì vậy, tôi nghĩ, thư viện sách Phật giáo sẽ là một công cụ hết sức hiệu quả để các tu viện, tự viện hành trì hạnh bố thí pháp. Với chuyên môn thư viện học, anh nghĩ sao về quan niệm nền tảng này.
 
Ông Nguyễn Tài Đức (NTĐ): Điều đó là rõ ràng và hiển nhiên. Trong công tác tư tưởng văn hóa, nhất là từ những năm 1990 trở về trước, khi chưa có internet, hoạt động của thư viện công cộng, cả tại Mỹ, Liên Xô và các nước phát triển của cả 2 khối chính trị lớn trên thế giới, đều được hết sức coi trọng.
 
Thư viện là một trong những phương tiện tạo ảnh hưởng tư tưởng, là công cụ của quyền lực mềm. Theo xu hướng đó, ở nước ta trước đây có các thư viện Phòng Thông tin Hoa kỳ, Thư viện của Viện Văn hóa Pháp (nay là Thư viện Viện Trao đổi Văn hóa với Pháp vẫn còn hoạt động), Thư viện Hội Đồng Anh, Thư viện Viện Goeth, Thư viện Nhà Văn hóa Khoa học Nga…ở các thành phố lớn.
 
Cho nên, tôi nghĩ, Phật giáo Việt Nam muốn thực hiện tốt Phật sự Hoằng pháp, thì cần có một mạng lưới thư viện tốt.
 
CSMT: Tôi đã đưa anh thăm qua một số thư viện, phòng lưu trữ kinh sách của nhà chùa. Vậy anh có nhận xét ra sao? Những thư viện và phòng lưu trữ kinh sách của các tu viện, tự viện Phật giáo có đáp ứng được nhu cầu hoằng pháp?
 
NTĐ: Chỉ thăm qua một số thư viện, phòng lưu trữ kinh sách (mà trong thư tịch cổ gọi là “tàng kinh các” và Phật giáo từ lâu đã truyền thống này), nên tôi không dám trả lời câu hỏi mà anh đưa ra.
 
Tuy nhiên, qua một số thư viện, phòng lưu trữ kinh sách tôi có dịp đến thăm, có thể nhận xét từ những cơ sở giới hạn đã khảo sát, rằng tại TPHCM và một số tỉnh, hoạt động thư viện Phật giáo đã không đáp ứng được một cách hiệu quả yêu cầu của hoạt động truyền bá đạo Phật, mà thuật ngữ Phật giáo gọi là hoằng pháp.
 
CSMT: Vậy, xin anh vui lòng phân tích chi tiết hơn vì sao hoạt động của thư viện, phòng lưu trữ kinh sách của tự viện, tu viện Phật giáo mà anh đã có dịp thăm qua chưa góp phần thích hợp, xứng tầm vào hoạt động hoằng pháp?
 
NTĐ: Có thể những ý kiến của tôi chỉ là những ý kiến chủ quan, phiến diện vì tôi chỉ thăm một số ít thư viện và phòng lưu trữ kinh sách và chỉ trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, cũng xin nêu ra đây để quý vị tu sĩ và tín đồ Phật giáo tham khảo.
 
Theo lý thuyết thư viện học, một trong những yếu tố căn bản để hình thành hoạt động thư viện, tức tạo cho thư viện giá trị như một công cụ truyền thông (nói theo cách nói của Phật giáo là phương tiện hoằng pháp), là bạn đọc. Nói đầy đủ hơn là hoạt động phục vụ bạn đọc: đọc tại chỗ hay mượn về nhà.
 
Không có hoạt động phục vụ bạn đọc, thì thư viện sẽ không thực hiện đầy đủ chức năng của mình.
 
Bạn đọc càng đông, số sách cho mượn càng nhiều, thì thư viện đó mới hoạt động hiệu quả.
 
Chùa Phật giáo là một nơi sinh hoạt tín ngưỡng công cộng. Như vậy, mặc nhiên, thư viện chùa phải là thư viện công cộng, tức là thư viện phục vụ đông đảo công chúng nhằm mục tiêu truyền bá đạo Phật. Loại thư viện này trong tiếng Anh gọi là “Public Library”.
 
Tuy nhiên, tôi lại nhận thấy ở một số chùa có thư viện, nhưng không được đưa vào phục vụ đông đảo công chúng. Một số chùa khác, thì mỗi tu sĩ có tủ sách riêng, gộp lại sẽ có rất nhiều sách, nhưng chỉ phục vụ riêng cho từng vị tu sĩ.
 
Loại thư viện nhà chùa này, nếu theo lý luận thư viện học của Liên Xô trước đây, thì không được coi là thư viện, vì nó không phục vụ công chúng rộng rãi.
 
Còn theo quan điểm của các nhà thư viện học phương Tây, thì đây gọi là thư viện cá nhân (Personal Library) hay là một bộ sưu tập (collection).
 
Ở một số chùa, tôi có thấy kinh sách đóng bìa da mạ chữ vàng rất đẹp, trưng bày trong các tủ kính có khóa, đặt ở phòng khách. Trong số này, có nhiều kinh sách chữ Hán. Còn khóa tủ kính, thì ở một số trường hợp, có dấu hiệu rĩ sét, tức là lâu ngày không mở. Có nghĩa là chính tăng ni trong chùa cũng ít sử dụng thư viện, hay tủ sách trung đó, mà sách chỉ để trưng bày cho đẹp cho sang, như một bộ sưu tập.
 
Trường hợp thứ hai là sách đặt trong tủ kính, có phục vụ, nhưng đối tượng chỉ giới hạn là tăng ni trong tu viện, tự viện. Đây cũng là một kiểu “Personal Library”.
 
Trường hợp thứ ba, là sách vẫn được đặt trong tủ kính, thường là tủ gỗ, rất đắt tiền sang trọng, có cho bạn đọc mượn đọc tại chỗ, và cũng có nhưng ít hơn, là cho mượn mang về. Tuy nhiên, trong trường hợp này sách cũng ít, bạn đọc cũng ít, không sắp xếp chuyên nghiệp, không thư mục. Những trường hợp thư viện tu viện, tự viện Phật giáo dạng này mà chưa đạt đến chuẩn Public Library đúng nghĩa.
 
CSMT: Có một trở ngại, là nhiều chùa có thể huy động nguồn sách, nhưng không có người làm công việc quản thủ thư viện, và càng không có quản thủ thư viện được đào tạo chuyên nghiệp. Như vậy, thì các tu viện tự viện Phật giáo làm sao xây dựng được “Public Library” như anh nói?
 
NTĐ: Xin đừng hiểu một thư viện phục vụ hiểu quả là một thư viện thiết kế đúng chuẩn, xếp sách đúng theo chuyên môn ngành, có thư mục (bây giờ không dùng thư mục bằng tủ phích mà đã chuyển sang thư mục vi tính hóa), cũng như phải có thủ thư là cử nhân khoa thư viện thông tin học.
 
Nếu hiểu như thế, thì thư viện phải rất đắt tiền trong bộ máy nhân sự, cũng như cơ sở vật chất, cơ chế vận hành. Điều này, không thích hợp với các tu viện, tự viện Phật giáo. Và nếu có làm được thì sẽ có rất ít thư viện Phật giáo công cộng.
 
Một thư viện công cộng hoạt động tốt (mà thư viện tu viện, tự viện Phật giáo là dạng thư viện chuyên ngành), chỉ khi nó phục vụ đông đảo bạn đọc, với chi phí hoạt động thấp, nhân sự hoạt động tối thiểu, bảo quản được sách…
 
Điều này các tu viện, tự viện Phật giáo đều có thể làm được, nhưng trong thực tế thì rất hiếm.
 
CSMT: Vậy, đề nghị anh hoan hỷ chỉ dẫn cách thức tổng quát để xây dựng thư viện tu viện, tự viện Phật giáo phục vụ hiệu quả cho hoạt động hoằng pháp.
 
NTĐ: Tôi xin có một số ý kiến đề xuất để quý vị tu sĩ và tín đồ Phật giáo tham khảo.
 
Những điều tôi chỉ dẫn dưới đây không hẳn là những kiến thức hoàn toàn hợp với kiến thức giáo khoa, vì hoàn toàn hợp với quy chuẩn thì chi phí hoạt động rất cao, không thích hợp với nhà chùa.
 
Tôi hướng đến mô hình tiết kiệm, sao cho với đầu tư ở mức thấp nhất, hoạt động ở kinh phí thấp nhất, nhưng phục vụ đạt kết quả nhất.
 
CSMT: Vậy, xin anh giúp cho ý kiến, càng chi tiết, càng cụ thể càng tốt.
 
NTĐ: Tôi xin đưa ra một số gợi ý tham khảo, còn việc áp dụng cụ thể là tùy hoàn cảnh mỗi tự viện, tu viện. Không nhất thiết phải áp dụng đúng.
 
Sau khi internet trở nên phổ biến, nhiều quan niệm truyền thống về thư viện công cộng đã thay đổi sâu sắc. Người ta đã dự kiến đến “cái chết của thư viện công cộng”.
 
Vì vậy, để thích ứng với hoàn cảnh mới, cách làm mới đối với thư viện công cộng đã ra đời và một phần chưa đưa vào nhà trường đào tạo thủ thư. Tuy nhiên, xét ra thì có nhiều quan điểm mới khi đưa vào vận dụng thì tỏ ra rất tiện lợi .Tôi sẽ đề cập, nhưng như đã nói, việc áp dụng tùy từng tu viện, tự viện cụ thể.
 
Quan điểm mới về thư viện cho rằng, mục tiêu của thư viện là phục vụ hữu hiệu và đông đảo bạn đọc. Do vậy, tùy hoàn cảnh mà làm, không đòi hỏi nhất nhất phải căn cứ vào kiến thức giáo khoa. Thí dụ, kích thước giá sách rất linh động để tạo sự dễ dàng cho thủ thư và bạn đọc. Nhưng nếu diện tích thư viện quá chật hẹp, thì có thể giá sách được thi công đụng tới trần nhà, thủ thư (và có thể bạn đọc khi tìm sách đặt trên cao phải dùng thang).
 
Ở thư viện, cái cần có nhất là sách, càng thật nhiều sách càng tốt, chứ không phải là tủ đựng sách mỹ thuật. Chúng tôi thấy một số thư viện tu viện, tự viện Phật giáo chú trọng đến tủ kính để sách hơn là số lượng sách. Ở nhiều nơi, tôi ước lượng trị giá tủ kính đựng sách làm bằng danh mộc giá trị hơn số sách để ở bên trong nhiều lần. Thiết tưởng, quan niệm này cần nên thay đổi. Giá trị của một thư viện là sách và bạn đọc, không phải là tủ kính để sách (trừ trường hợp chỉ để chưng bày).
 
Từ khi internet phát triển, thì cấu trúc thư viện có thay đổi. Thư viện Quốc gia Sài Gòn, hoàn thành vào nửa đầu thập niên 1970, là một thư viện hiện đại bậc nhất Đông Nam Á lúc đó, được thiết kế với kho sách đóng và phòng đọc riêng (chỉ có bàn ghế). Sách được chuyển đến người đọc từ kho đóng theo quy trình kỹ thuật hiện đại, với thời gian nhanh nhất.
 
Trong thời gian đó, sách được xếp theo số đăng ký cá biệt, ký hiệu xếp giá, tùy theo kích cỡ sách (thường chia 3 loại nhỏ, trung, lớn). Như vậy, một quyển sách toán học có thể đặt kế một cuốn sách Phật học nếu nó cùng kích cỡ và thời gian nhập kho gần nhau. Cách xếp sách này làm đẹp kho sách và tiết kiệm dung tích kệ, nhưng chỉ thích hợp với kho đóng (chỉ có thủ thư mới được vào tìm sách, bạn đọc chỉ viết phiếu yêu cầu sách dựa trên thư mục). Như vậy, Thư viện bắt buộc phải
làm thư mục đúng quy chuẩn, một công việc tốn thời gian và công sức cũng như chi phí nhân sự.
 
Cách làm như trên không thích hợp với thư viện tu viện tự viện Phật giáo.
 
Sau khi internet phát triển, thư viện chuyển sang dạng kho mở, sắp xếp theo phân loại.
 
Kho mở là dạng phòng đọc và kho sách hợp lại làm một.
 
Sách được sắp theo thư mục phân loại (Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM sử dụng bảng phân loại BBK của Liên Xô).
 
Trường hợp này, bạn đọc không cần tìm sách qua thư mục và không cần đến thủ thư, mà tự tìm sách ở dãy kệ theo đề mục mà mình cần tìm, theo cách tự phục vụ.
 
Để sống còn, với sự cạnh tranh của internet, phòng đọc kiêm kho sách có thể được thiết kế để trở thành hội trường, phòng khánh tiết, phòng họp, phòng hòa nhạc thính phòng, phòng đãi tiệc, phòng chiếu phim, phòng khách…
 
Thư viện cũng có thể ghép chung với bảo tàng, cũng có thể là trung tâm sinh hoạt văn hóa, khoa học giáo dục.
 
Phòng đọc cũng không giới hạn trong nội thất thư viện, mà có thể là ngoài vườn, ngoài hành lang trên sân thượng…
 
Áp dụng những quan niệm trên vào thư viện, tự viện, tu viện Phật giáo, thì có thể thực hiện như sau:
 
Phân chia kinh sách làm 2 loại, loại có giá trị cao, loại cần bảo quản chặt chẻ thì để trong tủ kính có khóa, hoặc trong kho đóng (không cho bạn đọc vào).
 
Loại có nhiều bản, kinh sách ấn tống, cần phổ biến rộng rãi, thì đặt trong không gian mở (tức là kệ không kính, không cửa, bạn đọc tự chọn và lấy sách trực tiếp trên kệ, không làm thư mục). Như vậy, sẽ không cần quản thủ thư viện được đào tạo chuyên nghiệp và không tốn chi phí cho thư mục.
 
Phía Phật giáo tự xây dựng hệ thống phân loại cho sách Phật giáo, có thể theo tông phái, theo thể loại, càng chi tiết càng tốt, và xếp sách theo bảng phân loại đó trên kệ để bạn đọc dễ tự tìm được sách mình mong muốn theo định hướng đề mục phân loại.
 
Đối với kho mở thư viện tu viện tự viện Phật giáo, thì không nên dùng tủ kính, mà thay vào đó dùng kệ mở (không cửa).
 
Nếu tu viện tự viện không có đủ diện tích mặt bằng riêng thì kệ sách mở có thể đặt trong các phòng công cộng khác nhau. Hình thức các thư viện công cộng kho mở phương Tây thường dùng là gắn kệ sách vào tường, biến các bức tường thành các bức tường sách. Bàn ghế dành cho bạn đọc kệ ở giữa được thiết kế để khi cần có thể chuyển thành bàn học, bàn họp, bàn ăn, bàn tiếp khách…
 
Theo tôi, dọc theo tường chánh điện tu viện, tự viện có thể lắp kệ gỗ chứa sách vào tường vừa để kinh tụng, vừa để sách Phật học. Khi cử hành khóa lễ, đó là chính điện . Ngoài khóa lễ, đó là thư viện, người đọc có thể hướng về bàn Phật đọc kinh sách đặt trên giá đặt kinh tụng .
 
Hoặc các tu viện , tự viện có thể lắp các kệ mở chứa kinh sách loại cần phổ biến rộng rãi, ấn tống … vào tường của hội trường. Hội trường là phòng có diện tích lớn thường ít khi sử dụng, lại sẵn bàn ghế. Nếu bổ sung chức năng thư viện mở cho hội trường thì sẽ tận dụng khai thác diện tích hội trường cho hoạt động thư viện. Nhiều thư viện công cộng ở Mỹ áp dụng hình thức lưỡng dụng này.
 
Với kho mở, thủ thư không cần chuyên môn cao, mà chỉ đóng vai trò người giữ sách. Trong trường hợp một tựa sách có nhiều bản (có thể đánh dấu thể hiện sách có nhiều bản lên chính bản sách), thì thư viện nên mở rộng hoạt động cho mượn về nhà. Để bảo quản sách, bạn đọc cần gửi tiền thế chân cho thư viện. Tiền thế chân có thể quy định theo số trang, thí dụ 200 đồng/trang chẳng hạn. Một quyển sách có 100 trang thì thế chân bằng 200 đồng x 100 trang = 20.000 đồng/quyển sách. Thư viện có thể tính phí ngày (thí dụ 500 – 1000 đồng/ngày), hoặc miễn phí ngày mà tính phí mượn gia hạn (thí dụ nếu qui định 50 trang sách ứng cho một ngày đọc thì đọc miễn phí một quyển 500 trang là trong 10 ngày). Nếu đọc trên 10 ngày thì tính thêm mỗi ngày sau 10 ngày miễn phí là 1000 đồng/ngày chẳng hạn.
Như vậy, cũng không cần thủ thư được đào tạo đại học chuyên ngành thư viện thông tin học, mà chỉ cần người có trình độ trung học phổ thông là đủ.
 
Cần vận động bổ sung sách cho thư viện từ những Phật tử hảo tâm, tặng lại cho thư viện tu viện, tự viện Phật giáo những quyển sách Phật học, sách triết học, sách khoa học xã hội đã đọc qua.
 
Tổ chức việc đọc sách báo ngoài vườn chùa, tạo không gian đạo vị, thích hợp cho người đọc sách. Ngày nay, người ta quan niệm thư viện công cộng không phải là một công cộng, mà có những khái niệm mới như “hotel library”, “resort library”, với người đọc chọn sách từ kho mở đặt ở nhà hàng ăn chẳng hạn, rồi ra sunbed (ghế nằm đặt dọc theo bãi biển của các resort) đọc sách. Riêng ở nhà chùa, bạn đọc có thể cần kinh sách ra vườn chùa ngồi băng đá để đọc.
 
Sách Phật giáo phần lớn không có ràng buộc về bản quyền, nên thư viện chùa có thể nhân bản phục vụ bạn đọc những bộ sách quý hiếm (bảo quản trong kho đóng) bằng dạng sách photo những tựa sách nhà chùa không có nhiều bản, để có những tựa sách quý hiếm trong kho mở.
 
Thư viện ngày nay không chỉ lưu trữ, phục vụ sách, mà còn gồm cả phim ảnh, băng từ, âm thanh, dĩa âm thanh cơ học, đĩa âm thanh quang học và đĩa hình ảnh quang học các loại. Thư viện tu viện tự viện Phật giáo có thể phát triển theo hướng này, trong bối cảnh chương trình ghi âm, ghi hình Phật giáo hiện đã có rất nhiều.
 
CSMT: Chúng tôi đang đề xuất mô hình “Trường học trong chùa, chùa trong trường học” .Vậy nên, những chùa có khả năng ứng dụng mô hình trên có thể đi đầu bằng cách xây dựng thư viện theo cách thức như thế. Vì đối với trường học thì một trong những yêu cầu bắt buộc là phải có thư viện. Xây thư viện là một trong những bước chuẩn bị để xây dựng trường học nhà chùa. Tôi nghĩ, Phật giáo nên khởi đầu ngay và thư viện theo kiểu anh trình bày, thư viện mở, rất ít chi phí xây dựng và vận hành.
 
NTĐ: Thư viện công cộng kiểu mới là một thứ sa-lông sách. Đối với Phật giáo, có thể là nơi trí thức Phật giáo gặp nhau để đàm đạo về Phật sự, kiến thức Phật học, thu hút Phật tử tới chùa, phục vụ hữu hiệu bạn đọc Phật tử bằng hoạt động thư viện. Là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, tu học, thiết nghĩ chùa nào cũng cần có thư viện mở như thế.
 
CSMT : Xin cảm ơn những ý kiến đóng góp bổ ích của anh.
 
MT (thực hiện)

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here