Trang chủ Tin tức TP.HCM: Tưởng niệm 49 năm HT. Thích Khánh Anh viên tịch

TP.HCM: Tưởng niệm 49 năm HT. Thích Khánh Anh viên tịch

Để tỏ lòng tôn kính và ôn lại những công hạnh của bậc danh Tăng Phật giáo Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho sự xương minh Phật pháp, đào tạo Tăng tài cho đạo pháp, vào lúc 10 giờ ngày ngày mùng 1 tháng 2 năm Canh Dần (16/3//2010), tại chùa Khánh Anh, quận 10, Tp. Hồ Chí Minh, Trung ương GHPGVN, Ban Trị sự Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 24 Ban Đại diện Phật giáo quận, huyện, trụ trì các Tổ đình, Tự viện trọng thể tổ chức Lễ Tưởng niệm lần thứ 49 ngày Đại lão Hòa thượng Thích Khánh Anh – Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc viên tịch.

Đến dang hương tưởng niệm có HT. Thích Viên Giác, HT. Thích Hiển Tu – Thành viên HĐCM; HT. Thích Thiện Nhơn – Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN; chư Tôn giáo phẩm HĐTS, Ban Trị sự Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 24 Ban Đại diện Phật giáo quận, huyện và chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các Tổ đình, Tự viện tại Tp. Hồ Chí Minh.

Theo sử liệu, Hòa thượng Thích Khánh Anh thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Hòa thượng sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Hòa thượng theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.

Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Hòa thượng quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917), Hòa thượng được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Hòa thượng thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Hòa thượng lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Hòa thượng trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.

Năm 1927, Hòa thượng được mời vào Nam làm Pháp sư dạy tại trường gia giáo chùa Giác Hoa tỉnh Bạc Liêu. Năm 1928, Hòa thượng lại về dạy Phật pháp tại chùa Hiền Long tỉnh Vĩnh Long. Qua năm 1931, Hòa thượng nhận lời mời làm trú trì chùa Long An, xứ Đồng Đế, tỉnh Cần Thơ. Ở đây Hòa thượng có rất nhiều Tăng tín đồ đến cầu học.

Năm 1935, Hòa thượng hợp tác với các Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang, Pháp Hải v.v… lãnh đạo Hội Lưỡng Xuyên Phật Học đặt trụ sở tại chùa Long Phước tỉnh Trà Vinh, và mở Phật Học Đường tại đây để đào tạo Tăng tài, truyền trì đạo pháp tại miền Nam. Hòa thượng tham gia giảng dạy tại Phật Học Đường và cộng tác với tạp chí Duy Tâm, cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội. Hòa thượng viết nhiều bài báo cổ xúy phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà, mong sao theo kịp đà tiến triển các nước Phật giáo bạn như Trung Hoa, Nhật Bản v.v…

Năm 1940, Hòa thượng được mời làm Pháp sư dạy ba tháng tại chùa Thiên Phước ở Tân Hương, tỉnh Tân An. Qua năm sau, Hòa thượng lại đến dạy Phật học trong ba tháng cho Đại giới đàn chùa Linh Phong ở Tân Hiệp. Năm 1942 Phật Học Đường Lưỡng Xuyên tạm nghỉ mấy tháng vì thiếu tài chánh. Hòa thượng về trú trì chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, mở các lớp giáo lý cho Tăng Ni và tín đồ ở đây. Năm 1945, Hòa thượng được Hòa thượng Huệ Quang mời về dạy trường gia giáo tại chùa Long Hòa, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, Hòa thượng về nhập thất tại chùa Phước Hậu để tâm nghiên cứu Tam Tạng kinh điển. Từ đó đến năm 1955, Hòa thượng đã soạn thảo và phiên dịch rất nhiều tác phẩm. Hòa thượng có cho xuất bản ba tập Khánh Anh Văn Sao. Một trong ba tập này in những bài Hòa thượng viết về giáo lý, những bài sớ giảng và thi bút do Hòa thượng sáng tác.

Năm 1955, Hội Phật Học Nam Việt thành lập, Hòa thượng được cung thỉnh vào cương vị Chứng minh Đạo sư của hội. Năm 1957, ngày mồng một tháng ba năm Đinh Dậu (31-3-1957), Đại Hội Giáo Hội Tăng Già Nam Việt Kỳ III họp tại chùa Ấn Quang, đã suy tôn Hòa thượng lên ngôi Pháp Chủ để lãnh đạo Phật giáo miền Nam, kế nối Hòa thượng Huệ Quang viên tịch tại Tân Đề Li Ấn Độ, khi Hòa thượng lãnh đạo phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi dự Hội nghị lần thứ 4 của Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu.

Ngày 10-9-1959, Đại Hội Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc Kỳ II tại chùa Ấn Quang, Hòa thượng được suy tôn Hòa thượng lên ngôi vị Thượng Thủ Giáo hội để cầm cương lĩnh vận mệnh Phật Giáo Việt Nam. Từ đó Hòa thượng thường xuyên lưu trú tại chùa Ấn Quang để đôn đốc Phật sự và tiếp tục phiên dịch, trước tác. Hòa thượng vẫn luôn tinh tấn tu hành, không giờ phút nào quên câu niệm Phật để cầu sanh Tây phương Lạc quốc.

Mùa xuân năm Tân Sửu (1961), nhân dịp hành hương đầu năm, Hòa thượng rời chùa Ấn Quang về thăm chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Sau đó Hòa thượng trở về chùa Long An xứ Đồng Đế, nơi Hòa thượng đã từng trú trì từ năm 1931. Thấy tứ đại bất an, thân ngũ uẩn giả hợp trwor về cát bụi, hóa duyên đã mãn, Hòa thượng cho gọi các đệ tử đến dặn dò, khuyên bảo tu học và hành đạo, rồi niệm Phật an nhiên viên tịch vào lúc 16 giờ ngày 30 tháng Giêng năm Tân Sửu (16-4-1961). Hòa thượng trụ thế 66 năm, 45 năm sống với đạo.

Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc rước kim quan Hòa thượng về chùa Ấn Quang cử hành trọng thể lễ tang và an táng tại An Dưỡng Địa – Bình Chánh. Đến ngày 15 tháng 2 Đinh Mùi (25-3-1967), Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất long trọng cử hành lễ trà tỳ, rồi rước linh cốt Hòa thượng về chùa Ấn Quang và chia thờ các nơi :

    – Chùa Ấn Quang, trụ sở Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc.

    – Chùa Long Phước (Trà Vinh), trụ sở Hội Lưỡng Xuyên Phật Học.

    – Tháp Đa Bảo ở chùa Phước Hậu, Trà Ôn, Cần Thơ.

    – Chùa Từ Nghiêm, trụ sở Ni bộ Bắc tông.

    – Chùa Long Phước, trụ sở Giáo Hội tỉnh Vĩnh Long.

Sự nghiệp trước tác và dịch phẩm của Hòa thượng để lại gồm có:

    – Hoa Nghiêm nguyên nhân luận.

    – Nhị khóa hiệp giải.

    – 25 Bài thuyết Pháp của Thái Hư Đại  Sư.

    – Tại gia cư sĩ luật.

    – Duy thức triết học.

    – Qui nguyên trực chỉ.

    – Và Khánh Anh Văn Sao (3 tập).

Hòa thượng Thích Khánh Anh là một vị cao Tăng bác học. Sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, giáo hóa lợi sanh của Hòa thượng rất lớn lao. Hòa thượng xứng đáng là viên đá lớn trong lâu đài Phật Giáo Việt Nam. Hòa thượng đã dày công đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni mà ngày nay, nhiều người trong số đó đủ khả năng và đức hạnh tiếp nối, vun đắp cho cây đại thụ Phật Giáo Việt Nam ngày một vững bền, xanh tươi.


Chư tôn giáo phẩm dâng hương tưởng niệm