PTVN – Chiều 17/10/2026, tại chùa Tam Chúc (tỉnh Ninh Bình), trong khuôn khổ Hội thảo khoa học quốc gia “Văn hóa Phật giáo Việt Nam trong kỷ nguyên số: Thực tiễn và định hướng phát triển”, Thượng tọa Thích Giác Hoằng đã trình bày tham luận về Phật giáo Khất sĩ trong tiến trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam, qua đó làm rõ tinh thần thống nhất trong đa dạng, sự giao thoa giữa các truyền thống Phật giáo và quá trình hình thành bản sắc văn hóa riêng của hệ phái Khất sĩ.
Hội thảo do Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Viện Dân tộc học và Tôn giáo học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Ban Dân tộc và Tôn giáo thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Báo Đại Đoàn Kết tổ chức, trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 45 năm thành lập Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN.
Trình bày tham luận, Thượng tọa Thích Giác Hoằng tiếp cận vấn đề từ phương diện lịch sử và nghiên cứu văn bản, lấy bộ Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang làm nguồn tư liệu chính để phân tích đặc trưng tư tưởng, phương pháp tu tập và quá trình tiếp biến văn hóa của hệ phái Khất sĩ.
Theo Thượng tọa, Phật giáo Việt Nam hiện diện với nhiều truyền thống như Bắc truyền, Nam truyền và Khất sĩ, cùng những phương thức hành trì, nghi lễ và hình thái văn hóa khác nhau. Trong bối cảnh đó, tinh thần thống nhất không đồng nghĩa với việc xóa bỏ sự khác biệt, cũng như tính đa dạng không có nghĩa là phân lập. Sự thống nhất được xác lập trên nền tảng giáo pháp, lý tưởng giải thoát và mục tiêu tu học chung, trong khi mỗi truyền thống vẫn duy trì những đặc trưng về tổ chức, phương pháp hành trì và sinh hoạt văn hóa.
Ra đời năm 1946 tại Nam Bộ, Phật giáo Khất sĩ gắn liền với Tổ sư Minh Đăng Quang và chí nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp”. Qua nghiên cứu bộ Chơn lý, Thượng tọa cho rằng sự hình thành bản sắc Khất sĩ không phải kết quả của việc cộng hợp cơ học các truyền thống Phật giáo, mà là quá trình lựa chọn, tiếp nhận và diễn giải những yếu tố giáo lý, phương pháp tu tập trên nền tảng trở về với Chánh pháp.
Ở phương diện giáo lý, bộ Chơn lý trình bày nhiều nội dung căn bản như Tứ Thánh đế, Bát Chánh đạo, Thập nhị nhân duyên và Giới – Định – Tuệ, đồng thời tiếp nhận những tư tưởng quen thuộc trong Phật giáo Đại thừa như chân như, Phật tánh và hạnh nguyện Bồ-tát. Qua đó, hệ phái Khất sĩ thể hiện sự tiếp nhận các nguồn tư tưởng khác nhau nhưng vẫn hướng đến mục tiêu giác ngộ, giải thoát.
Trong đời sống tu hành, Thượng tọa đề cập những thực hành như khất thực, trì bình, du phương giáo hóa cùng các phương pháp thiền định, thiền quán. Đặc biệt, tham luận lưu ý không nên mặc nhiên xem các hình thức hành trì có nguồn gốc từ Phật giáo thời kỳ đầu là đặc trưng riêng của Phật giáo Nam truyền, bởi nhiều phương pháp đã được các truyền thống Phật giáo tiếp nhận và phát triển trong tiến trình lịch sử.
Đối với phương pháp niệm Phật, Thượng tọa phân tích cách Tổ sư Minh Đăng Quang liên hệ sự niệm Phật với hơi thở, sự nhiếp tâm và trạng thái thanh tịnh nội tâm. Những khái niệm như A Di Đà và Cực Lạc được Tổ sư diễn giải theo chiều hướng tu chứng và chuyển hóa đời sống hiện tại. Tuy nhiên, Thượng tọa nhấn mạnh không nên từ cách diễn giải này mà kết luận Tổ sư phủ nhận toàn bộ quan niệm vãng sinh trong truyền thống Tịnh độ.
Tương tự, khi khảo cứu các nội dung liên quan đến thân mật, khẩu mật và ý mật trong bộ Chơn lý, tham luận cho rằng cần đặt những khái niệm này trong hệ quy chiếu Giới – Định – Tuệ và tư tưởng tu tập của Tổ sư, thay vì đồng nhất với toàn bộ hệ thống giáo lý và nghi quỹ của Mật tông.
Một nội dung khác được đề cập là sự tiếp nhận và diễn giải các yếu tố tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo trong môi trường văn hóa Việt Nam. Qua việc phân tích cách Tổ sư Minh Đăng Quang nhìn nhận các truyền thống tư tưởng, Thượng tọa đề xuất sử dụng khái niệm “tam giáo đồng quy” theo phương diện giáo hóa, thay vì mặc nhiên đồng nhất với quan niệm “tam giáo đồng nguyên”.
Từ những khảo cứu trên, tham luận nhấn mạnh rằng dung hội không phải là cộng hợp, tiếp biến không đồng nghĩa với đánh mất bản sắc. Các yếu tố được tiếp nhận đều trải qua quá trình lựa chọn và diễn giải lại trên một nền tảng tư tưởng nhất định, qua đó hình thành những đặc trưng riêng của Phật giáo Khất sĩ.

Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981, hệ phái Khất sĩ trở thành một trong những tổ chức thành viên tham gia thống nhất Phật giáo cả nước, cùng thực hiện nguyên tắc thống nhất về tổ chức và hoạt động Phật sự, đồng thời tiếp tục duy trì những đặc trưng về truyền thừa, nghi lễ, phương pháp tu tập và văn hóa hệ phái.
Qua trường hợp Phật giáo Khất sĩ, tham luận của Thượng tọa Thích Giác Hoằng góp phần làm rõ ý nghĩa của nguyên tắc “thống nhất trong đa dạng” đối với Phật giáo Việt Nam. Sự thống nhất về tổ chức và mục tiêu chung không nhất thiết dẫn đến đồng nhất về truyền thống, mà có thể tạo điều kiện để các giá trị văn hóa, giáo lý và phương thức hành trì cùng được bảo tồn, phát huy trong một chỉnh thể Giáo hội.
Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, những phân tích từ tham luận cũng gợi mở yêu cầu nghiên cứu, hệ thống hóa và bảo tồn các nguồn tư liệu, di sản văn hóa đặc thù của từng truyền thống Phật giáo, qua đó góp phần gìn giữ bản sắc riêng của các hệ phái trong sự thống nhất chung của Phật giáo Việt Nam.
PV






![[45 NĂM THÀNH LẬP BAN VHTƯ] Trải nghiệm thiền tập, trà đạo trên hồ Tam Chúc](https://www.phattuvietnam.net/wp-content/uploads/2026/10/1792211525293_3027190562578024058_g5100582462563016880_43b03c6dad62f2b6b34e374a4d300117-238x178.jpg)


